Theo chuyên gia, mức học phí 25-50 triệu đồng mỗi năm là gánh nặng lớn với nhiều gia đình, làm dấy lên nguy cơ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn khó tiếp cận giáo dục đại học chất lượng cao.
Tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa, nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM, cảnh báo giáo dục đại học chất lượng cao có thể dần trở thành “sân chơi” của những gia đình có điều kiện kinh tế. Theo ông, tốc độ tăng học phí, đặc biệt tại các trường công lập vừa chuyển sang tự chủ, có thể gấp đôi hoặc hơn so với trước đây, tạo áp lực tài chính không nhỏ.
Với các gia đình ở nông thôn hoặc có thu nhập trung bình, mức học phí 25-50 triệu đồng mỗi năm, chưa kể sinh hoạt phí tại các thành phố lớn, là gánh nặng lớn. Dù các trường có quỹ học bổng, phạm vi và mức hỗ trợ đôi khi chưa đủ để giải quyết triệt để rào cản tài chính đối với sinh viên nghèo vượt khó.

Ông Nghĩa cho rằng tăng học phí đại học ở Việt Nam là xu hướng tất yếu khi các trường tiến tới tự chủ, nhất là trong bối cảnh nguồn thu ngoài học phí của các trường trong nước chưa chiếm tỷ lệ cao như ở các nước tiên tiến.
Theo ông, chi phí đào tạo tăng do nhiều yếu tố, từ tiền điện, nước, hóa chất, nguyên vật liệu, bảo trì thiết bị đến nhu cầu đầu tư mạnh cho chuyển đổi số. Các trường còn cần nguồn lực lớn để phát triển cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị chuyên dụng, vật tư tiêu hao và cơ sở thực hành, thực tập lâm sàng, nhất là ở các ngành sức khỏe, kỹ thuật, công nghệ và nghệ thuật.
Chi phí đáp ứng tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trong nước và quốc tế cũng tăng, kéo theo yêu cầu phát triển đội ngũ giảng viên, bảo đảm chuẩn đầu ra và quốc tế hóa chương trình đào tạo. Ông Nghĩa cũng cho biết các chính sách cải cách tiền lương mới, như Nghị định số 182/2026/NĐ-CP về phụ cấp ưu đãi nhà giáo và Nghị định số 161/2026/NĐ-CP về tăng lương cơ sở, làm gia tăng quỹ lương và chi thường xuyên của các cơ sở giáo dục.
Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy, trong 988 chương trình được khảo sát, có 586 chương trình, tương đương 59,3%, có chi phí đào tạo tính đủ cao hơn mức trần hiện hành. Trong đó, 270 chương trình cần mức chi phí cao hơn ít nhất 1,5 lần trần và 127 chương trình có chi phí từ hai lần trần trở lên.
Theo ông Nghĩa, nếu thực hiện tính đúng, tính đủ, phần lớn cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là nhóm chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, đang duy trì học phí thấp hơn đáng kể so với chi phí đào tạo thực tế. Khoản chênh lệch phải dựa vào ngân sách nhà nước hoặc các nguồn thu hợp pháp khác để bù đắp.

Ông cho biết ngay cả khi áp dụng mức học phí tối đa theo quy định hiện hành, nguồn thu vẫn chưa đủ bù đắp chi phí cho nhiều chương trình đào tạo. Theo ông, mức trần học phí đang bộc lộ hạn chế, chưa phản ánh đầy đủ nhu cầu nguồn lực thực tế của phần lớn chương trình trong hệ thống giáo dục đại học, chứ không phải do các trường chưa tận dụng hết dư địa thu.
Cần điều chỉnh học phí gắn với khả năng chi trả
Theo ông Nghĩa, khả năng chi trả của người học là yếu tố bắt buộc phải cân nhắc khi xác định học phí, bên cạnh khung pháp lý, mức độ tự chủ tài chính, áp lực cạnh tranh tuyển sinh, uy tín và chiến lược phát triển của từng trường.

Việc điều chỉnh học phí cần có lộ trình phù hợp, bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục đại học, nhất là với sinh viên ở khu vực khó khăn và các nhóm yếu thế.
Ông cho biết, trong những năm trước đây, Chính phủ đều có quy định về chính sách và lộ trình điều chỉnh học phí. Với các cơ sở dân lập, tư thục, tỷ lệ tăng học phí các năm tiếp theo tối đa không quá 15% đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và không quá 10% đối với giáo dục phổ thông, mầm non.
Theo ông Nghĩa, từ năm học 2027-2028 trở đi, mức trần học phí tại các trường công lập sẽ được điều chỉnh phù hợp với khả năng chi trả và điều kiện kinh tế – xã hội. Mức tăng tối đa không vượt quá tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng tại thời điểm xác định học phí so với cùng kỳ năm trước, theo công bố của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ông đánh giá việc gắn mức tăng tối đa với biến động chỉ số giá tiêu dùng là cơ chế hợp lý, giúp các trường bù đắp chi phí trượt giá mà không tạo cú sốc tài chính đột ngột cho người học.
Theo ông Nghĩa, chính sách miễn, giảm học phí hiện nay đã góp phần lớn trong việc bảo đảm công bằng, giảm gánh nặng tài chính và hỗ trợ các đối tượng chính sách, người khuyết tật, hộ nghèo, cận nghèo cùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, khoảng trống hỗ trợ vẫn tồn tại rõ rệt ở một số nhóm sinh viên.
Đó là sinh viên thuộc diện chính sách nhưng theo học tại các trường đã tự chủ tài chính hoặc chương trình chất lượng cao. Nhà nước hiện cấp bù theo mức trần học phí, trong khi học phí thực tế của các trường này cao hơn nhiều, khiến người học vẫn phải tự chi trả phần chênh lệch lớn.

Một nhóm khác là sinh viên theo học các ngành đặc thù như sức khỏe, nghệ thuật, thể thao và kỹ thuật, vốn có chi phí đào tạo thực tế rất lớn. Theo chuyên gia, mức miễn, giảm hoặc cấp bù hiện hành chưa phản ánh đúng đặc thù chi phí của các khối ngành này.
Để giảm áp lực tài chính, ông Nghĩa cho rằng cần cải tổ mạnh mẽ cơ chế học phí và chính sách tín dụng sinh viên. Theo ông, dự thảo quyết định mới đề xuất nâng mức vay tối đa lên 8 triệu đồng mỗi tháng cho mỗi sinh viên; ông đánh giá mức này phù hợp hơn với mặt bằng chi phí đào tạo và sinh hoạt hiện nay.
Bên cạnh đó, Quyết định số 29/2025/QĐ-TTg đã có chính sách tín dụng riêng cho các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán (STEM). Người học có thể vay toàn bộ học phí thực tế sau khi trừ học bổng và hỗ trợ tài chính, đồng thời vay thêm tối đa 5 triệu đồng mỗi tháng cho sinh hoạt phí và các chi phí học tập khác.
Ông Nghĩa cũng cho rằng việc quản lý hồ sơ và thủ tục vay vốn cần được số hóa để đơn giản, rõ ràng và dễ tiếp cận hơn. Về cơ chế học phí, ông đề xuất áp dụng nguyên tắc chia sẻ minh bạch theo công thức: “Mức học phí = Chi phí đào tạo thực tế – Phần kinh phí được ngân sách nhà nước hỗ trợ”.
Theo ông, Nhà nước cần hoàn thiện và ban hành đầy đủ định mức kinh tế – kỹ thuật làm cơ sở xác định chi phí đào tạo thực tế. Đồng thời, cần nghiên cứu sửa đổi cơ chế cấp bù tiền miễn, giảm học phí theo hướng căn cứ vào học phí thực tế của cơ sở đào tạo, đặc biệt tại các trường tự chủ, thay vì bị giới hạn bởi mức trần.

Ông Nghĩa cũng kiến nghị tiếp tục ưu tiên đầu tư, đặt hàng và giao nhiệm vụ kèm ngân sách cho các ngành nghề trọng điểm, những ngành khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu, đồng thời xây dựng cơ chế hỗ trợ riêng cho các khối ngành có chi phí đào tạo lớn.
Về phía các trường đại học, ông cho rằng cần khuyến khích mạnh mẽ mô hình doanh nghiệp trong trường, đẩy mạnh thương mại hóa nghiên cứu và xây dựng văn hóa đóng góp quỹ hiến tặng từ cựu sinh viên, doanh nghiệp. Qua đó, các trường có thể đa dạng hóa nguồn thu ngoài học phí, tăng nguồn lực đầu tư cho đào tạo và từng bước giảm áp lực chi phí lên người học.
Thanh Hy (tổng hợp)