Xuất khẩu nông sản Đồng Nai 2026: Hạt điều, chuối, sầu riêng bứt phá

Đồng Nai— Hơn 40.000 hecta cây trồng ứng dụng công nghệ cao cùng 194 mã số vùng trồng xuất khẩu đã đưa nông sản địa phương thâm nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Tỉnh đặt mục tiêu nâng giá trị sản xuất trên 1 hecta đất trồng trọt lên 180–200 triệu đồng vào năm 2030.

Sau khi hợp nhất Bình Phước và Đồng Nai từ ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, tỉnh Đồng Nai mới sở hữu không gian phát triển nông nghiệp rộng lớn trải dài từ vùng đất đỏ bazan phía Bắc đến vùng chuyên canh cây ăn quả phía Đông. Chiến lược xuất khẩu nông sản giai đoạn 2025–2026 của địa phương đang gặt hái kết quả nhờ sự bứt phá của ba mặt hàng chủ lực gồm hạt điều, chuối và sầu riêng. Các sản phẩm này đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe tại châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ.

Thông qua nền tảng liên kết chuỗi khép kín, ứng dụng công nghệ tự động hóa và hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử, hàng loạt nông sản địa phương đã vượt qua rào cản kỹ thuật của các thị trường khó tính. Việc quy hoạch bài bản vùng nguyên liệu đạt chuẩn không chỉ giải quyết bài toán biến động giá cả mà còn hiện thực hóa mục tiêu phát triển nông nghiệp tuần hoàn, bền vững trong dài hạn.

Vườn chuối ứng dụng công nghệ cấy mô tại tỉnh Đồng Nai. (Ảnh: Đồng Nai Mới)

194 mã số vùng trồng mở đường cho nông sản vào thị trường tỷ dân

Nắm bắt xu hướng toàn cầu hóa và rào cản kỹ thuật ngày càng nghiêm ngặt, tỉnh đã thiết lập thành công 194 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu, bao trùm diện tích hơn 14.000 ha. Đi kèm là 52 cơ sở đóng gói được cấp mã số định danh, tạo thành bộ khung vững chắc giúp nông sản rộng đường tiến vào các thị trường quy mô lớn như Trung Quốc, Hoa Kỳ, châu Âu, Australia và New Zealand.

Trong cơ cấu mã số này, mặt hàng chuối dẫn đầu với 54 mã số vùng trồng phủ trên 7.250 ha, đi kèm 37 cơ sở đóng gói chuyên biệt. Cây sầu riêng cho thấy sức hút mạnh mẽ khi đã hoàn thiện hồ sơ cho 51 mã số, trong đó giai đoạn đầu đạt chuẩn 7 vùng với 533 ha, sau đó mở rộng thêm 21 mã số trên hơn 1.500 ha. Bưởi chiếm 22 mã số vùng trồng trải dài trên diện tích gần 1.700 ha, còn thanh long góp mặt với 4 mã số quản lý quy mô 460 ha.

Để duy trì 194 mã số này, toàn bộ chuỗi cung ứng phải tuân thủ triệt để các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPHM) và ghi chép nhật ký canh tác điện tử. Người nông dân được đào tạo bài bản về kỹ thuật loại bỏ sinh vật gây hại, đặc biệt là rệp sáp, đồng thời kiểm soát nghiêm ngặt dư lượng thuốc bảo vệ thực vật theo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của các quốc gia nhập khẩu.

Việc mã hóa vùng trồng chính là “giấy thông hành” quan trọng giúp cơ quan chức năng truy xuất nguồn gốc chính xác, ngăn chặn tình trạng mạo danh hàng hóa và bảo vệ uy tín của nông sản Việt Nam trên thương trường quốc tế. Đây cũng là cơ sở để các đơn vị xuất khẩu đàm phán giá tốt hơn với đối tác nước ngoài.

Nghịch lý 180.000 ha điều và bài toán thương hiệu quốc tế

Dù sở hữu diện tích canh tác lên tới 180.000 ha sau khi sáp nhập không gian phát triển và đóng góp 50% tổng kim ngạch xuất khẩu hạt điều cả nước với giá trị gần 2,8 tỷ USD (khoảng 70.840 tỷ đồng) trong năm 2025, ngành điều địa phương vẫn đối mặt với nghịch lý về giá trị thương hiệu trên trường quốc tế. Nguyên nhân cốt lõi nằm ở cơ cấu sản phẩm chế biến còn mất cân đối.

Hiện tại, khoảng 80% sản lượng xuất khẩu vẫn dừng ở dạng nhân trắng sơ chế hoặc rang muối cơ bản. Các dòng sản phẩm chế biến sâu mang lại biên lợi nhuận cao chỉ chiếm tỷ lệ vỏn vẹn từ 10% đến 15%. Điều này khiến giá trị gia tăng phần lớn rơi vào tay các nhà phân phối và thương hiệu bán lẻ nước ngoài, trong khi doanh nghiệp trong nước chỉ hưởng phần nhỏ từ khâu chế biến sơ cấp.

Sự phụ thuộc vào nguyên liệu ngoại nhập cũng đang bóp nghẹt biên lợi nhuận. Là trung tâm chế biến hàng đầu, nhưng nguồn cung nội địa hiện chỉ đáp ứng 10% đến 30% công suất nhà máy. Các đơn vị phải chi hàng tỷ USD để nhập khẩu 90% lượng điều thô từ Campuchia và châu Phi, gồm Bờ Biển Ngà, Nigeria và Ghana. Năng suất trồng điều trong nước hiện chỉ đạt 1,2 đến 1,5 tấn/ha, mang lại lợi nhuận thấp nên khó cạnh tranh quỹ đất với các loại cây mang giá trị tỷ đô khác.

Do phải đấu giá mua nguyên liệu với chi phí cao, trong khi giá bán nhân điều bị đối tác nước ngoài o ép, biên lợi nhuận của ngành hiện rớt xuống mức rất mỏng, chỉ từ 2% đến 3%. Nhiều cơ sở gia công trên địa bàn vẫn hoạt động nhỏ lẻ, chưa chú trọng đầu tư hệ thống bao bì, nhãn mác chuyên nghiệp hoặc chưa đăng ký các chứng nhận an toàn thực phẩm quốc tế khắt khe như FDA, BRC, HACCP hay ISO.

Việc quảng bá thương hiệu quốc gia “Vietnam Cashew” ở phân khúc cao cấp, bán lẻ trực tiếp (B2C) tại Mỹ, EU hay Trung Quốc vẫn còn mờ nhạt, khiến mặt hàng này thường bị lẫn lộn hoặc phải đóng gói dưới tên thương hiệu của các nhà phân phối ngoại quốc.

Công nhân đóng gói điều rang muối xuất khẩu. (Ảnh: Đồng Nai Mới)

Chuối 20.974 ha và sầu riêng tăng trưởng 274,8% đầu năm 2026

Sở hữu 20.974 ha chuối với sản lượng trên 900.000 tấn/năm (năng suất 55 tấn/ha) cùng gần 25.000 ha sầu riêng (năng suất bình quân 12 tấn/ha, có nơi lên tới 25 tấn/ha), địa phương đã vạch chiến lược sắc bén để thâm nhập sâu vào các thị trường tỷ dân. Cách làm then chốt là chuẩn hóa toàn bộ quy trình canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP và GlobalGAP.

Nông dân được chuyển giao công nghệ quản lý dịch hại tiên tiến, kết hợp hệ thống tưới nhỏ giọt thông minh giúp giảm từ 10% đến 15% chi phí vật tư đầu vào. Lợi nhuận cây chuối nhờ đó được tối ưu lên mức 350 đến 400 triệu đồng/ha.

Về xúc tiến thương mại, địa phương liên tục tổ chức các sự kiện xuất khẩu quy mô lớn. Điển hình là sự kiện xuất hành 11 container chở 220 tấn chuối tươi già Nam Mỹ tiến thẳng sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Việc tận dụng lợi thế từ các Nghị định thư đã ký kết, đặc biệt là quy định kiểm dịch thực vật đối với sầu riêng đông lạnh và chuối tươi, giúp khối lượng xuất khẩu chính ngạch tăng vọt.

Chỉ trong tháng 1/2026, xuất khẩu sầu riêng đã ghi nhận mức tăng trưởng 274,8% so với cùng kỳ năm trước, tạo đà cán mốc 1 tỷ USD (khoảng 25.300 tỷ đồng) ngay trong quý đầu năm. Đây là tín hiệu cho thấy sầu riêng Đồng Nai đang dần khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.

Bên cạnh đó, sự gắn kết chuỗi giá trị giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp xuất khẩu được thắt chặt chưa từng có. Thay vì sản xuất tự phát, các doanh nghiệp chủ động cung cấp vật tư, chuyển giao công nghệ cấy mô kháng bệnh, đồng thời kiểm soát nghiêm ngặt dư lượng hóa chất ngay tại vườn. Phần mềm Te-Food được đưa vào ứng dụng để minh bạch hóa nhật ký điện tử, giúp mỗi lô hàng có thể truy xuất nguồn gốc chỉ bằng thao tác quét mã QR trên điện thoại.

496 sản phẩm OCOP vươn tới Mỹ, EU, Nhật Bản và Trung Đông

Tính đến giai đoạn 2025–2026, chương trình Mỗi xã một sản phẩm của địa phương đã đạt thành công vượt bậc với tổng cộng 496 sản phẩm OCOP thuộc sở hữu của 323 chủ thể sản xuất kinh doanh. Sự phân hạng chất lượng được minh chứng rõ nét thông qua hệ thống xếp sao: có 11 sản phẩm đạt đỉnh cao 5 sao cấp quốc gia, từ 50 đến 89 sản phẩm đạt chuẩn 4 sao, và hàng trăm sản phẩm duy trì chất lượng 3 sao vững chắc.

Hệ sinh thái 496 sản phẩm này bao phủ đa dạng nhóm nông sản chủ lực và đặc sản bản địa. Chiếm ưu thế tuyệt đối là nhóm thực phẩm chế biến sâu, nổi bật là các dòng sản phẩm từ hạt điều như điều rang củi, điều tẩm phô mai và điều muối hồng Himalaya. Tiếp đến là nhóm trái cây sấy thăng hoa công nghệ cao gồm mít ướt sấy, sầu riêng sấy và xoài cát chu sấy dẻo.

Các chế phẩm từ ca cao cũng chiếm vị trí đáng kể với bột ca cao 3 trong 1, rượu vang ca cao và chocolate thành phẩm. Nhóm dược liệu quý có nước ép nha đam, thạch dừa, nấm linh chi cùng các sản phẩm bảo vệ sức khỏe chiết xuất từ xáo tam phân. Nhóm chăn nuôi đặc sản góp mặt với thịt và trứng chim trĩ đỏ, trong khi nhóm đồ uống lên men có nước ép tắc và rượu điều.

Nhờ đầu tư chỉn chu vào chất lượng, bao bì và hồ sơ truy xuất nguồn gốc điện tử, các mặt hàng OCOP đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, thâm nhập thành công vào hàng loạt thị trường danh giá trong năm 2025–2026. Các điểm đến tiêu biểu gồm Trung Quốc (Thượng Hải), Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, châu Âu (Cộng hòa Séc, Anh, Đức, Hà Lan), Australia, Canada, New Zealand, cùng khối các quốc gia Trung Đông (Qatar, Ả Rập Xê Út) và khu vực Đông Nam Á (Malaysia, Singapore).

Doanh nghiệp đầu tàu dẫn dắt chuỗi giá trị tỷ USD

Bức tranh xuất khẩu nông sản tỷ USD của địa phương được định hình bởi sự năng động của hàng loạt doanh nghiệp và hợp tác xã tiên phong trong chuyển giao công nghệ và xây dựng chuỗi liên kết khép kín. Trong hệ sinh thái ngành điều, Công ty cổ phần Tập đoàn Gia Bảo nổi lên như điểm sáng khi rót 6,5 triệu USD (khoảng 164,5 tỷ đồng) xây dựng Nhà máy Chế biến nông sản và thực phẩm Bà Tư Bình Phước với công suất 4.000 tấn/năm.

Sát cánh là các thương hiệu uy tín như Công ty TNHH XNK MTV Nga Biên (Vigonuts) với hệ thống tách hạt tự động giúp giảm 50% chi phí nhân công; Công ty TNHH Hạt Điều Vàng, Công ty Nông sản Năm Hiệp, Công ty TNHH MTV Hoàng Linh Linh, Công ty TNHH MTV Sản xuất Thương mại Phúc Thịnh và Công ty TNHH Vinahe. Các đơn vị này tập trung xuất khẩu các dòng điều tẩm vị cao cấp.

Đối với ngành hàng trái cây tươi và sấy khô, Hợp tác xã Thanh Bình đang là đầu tàu khi liên kết trên 300 ha chuối cấy mô, xuất khẩu ổn định 600 tấn chuối tươi mỗi tháng. Các đơn vị như Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Nông sản – Thủy sản Đồng Nai, Hợp tác xã Nông nghiệp dịch vụ thương mại Bình Lộc, Công ty TNHH Xuất nhập khẩu trái cây Hòa Hạnh (công suất sơ chế sầu riêng 150 tấn/ngày) và Hợp tác xã Phú Sơn (sở hữu 350 ha sầu riêng) đang nắm giữ vai trò chủ chốt trong việc duy trì mã số vùng trồng.

Mô hình trang trại Queen Farm gây ấn tượng mạnh khi ứng dụng toàn diện công nghệ IoT, cảm biến đất và nhật ký điện tử vào canh tác sầu riêng. Trong lĩnh vực chế biến, Công ty TNHH TM SX Thuận Hương và Công ty TNHH MTV An Khang đang làm chủ công nghệ sấy thăng hoa, đưa mít ướt và xoài xuất ngoại.

Chuỗi giá trị còn được mở rộng bởi Công ty TNHH Ca cao Trọng Đức và Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Ca Cao Suối Cát với mô hình liên kết bao tiêu hàng ngàn hecta. Lĩnh vực chăn nuôi và ứng dụng công nghệ vi sinh ghi dấu ấn của Công ty TNHH Chăn nuôi sản xuất và thương mại Thanh Mai (trứng chim trĩ đỏ), Công ty VINAEGG (chế biến 600.000 quả trứng cút tiệt trùng mỗi ngày), Công ty TNHH Trang Trại Việt (sản xuất phân bón hữu cơ và dưa lưới GlobalGAP) cùng GC Food (chế biến nha đam, thạch dừa Vinacoco).

Mảng chăn nuôi xuất khẩu còn được dẫn dắt bởi các tập đoàn FDI khổng lồ như Koyu & Unitek, CP, Japfa, CJ, Masan và De Heus, tạo nên hệ sinh thái nông nghiệp công nghệ cao hoàn chỉnh.

Lộ trình đến 2030 và tầm nhìn Net Zero 2050

Theo Kế hoạch số 206/KH-UBND và Quyết định số 3380/QĐ-UBND, địa phương đã thiết lập các cột mốc cụ thể nhằm hoàn thiện bản đồ quy hoạch vùng nguyên liệu nông sản. Ngay trong giai đoạn 2025–2026, tỉnh tập trung số hóa 100% hồ sơ quản lý, triển khai hệ thống quan trắc sinh vật hại, cảnh báo thời tiết bằng trí tuệ nhân tạo (AI) và hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin.

Ở mốc thời gian này, giá trị sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu vượt ngưỡng 38.000 tỷ đồng, chiếm trên 51% tổng giá trị nông sản chủ lực. Toàn tỉnh ghi nhận sự hiện diện của 127 vùng sản xuất tập trung với quy mô gần 41.000 ha và 419 mô hình công nghệ tiên tiến.

Đến năm 2030, địa phương đặt mục tiêu hoàn thành cơ bản việc phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, bao phủ từ 45% đến 50% tổng diện tích canh tác toàn tỉnh. Vào thời điểm này, 100% diện tích các loại cây ăn quả chủ lực gồm xoài, sầu riêng, chuối, bưởi và mít sẽ được cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm. 60% diện tích cây rau màu cũng sẽ được cơ giới hóa đồng bộ.

Tỉnh đặt mục tiêu đưa diện tích nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao lên ít nhất 60%, đồng thời hình thành 8 vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ chuyên biệt với quy mô 4.400 ha. Cụ thể đối với cây chuối, diện tích quy hoạch sẽ chạm mốc 27.500 ha, mang lại sản lượng trên 1,3 triệu tấn/năm. Ngành điều cũng được kỳ vọng tối ưu hóa năng suất bình quân lên mức 2,0 đến 2,5 tấn/ha thông qua tái canh bằng giống ghép chất lượng cao.

Hiệu quả kinh tế tổng thể trên 1 hecta đất trồng trọt dự kiến sẽ bứt phá lên mức 180 đến 200 triệu đồng vào năm 2030. Tầm nhìn xa hơn đến năm 2050, quy hoạch vùng nguyên liệu nông sản của Đồng Nai sẽ đạt trạng thái hoàn thiện theo mô hình sinh thái, hiện đại và bền vững. Lộ trình này gắn kết chặt chẽ với cam kết Net Zero, giảm phát thải carbon, phát triển kinh tế tuần hoàn và kết hợp du lịch sinh thái nông nghiệp, đưa địa phương trở thành trung tâm chế biến, logistics nông sản hàng đầu khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.

Ngọc Duyên