Lò phản ứng mới trong hành trình phát triển hạt nhân Việt Nam

Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cho biết dự án lò phản ứng nghiên cứu mới tại Đồng Nai được kỳ vọng mở rộng năng lực sản xuất dược chất phóng xạ trị ung thư của Việt Nam.

Tại họp báo thường kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ ngày 30/9/2026, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam Trần Chí Thành thông tin về định hướng phát triển các ứng dụng năng lượng nguyên tử tại Việt Nam. Dự án lò phản ứng nghiên cứu mới ở Đồng Nai được kỳ vọng giúp Việt Nam sản xuất nhiều hơn về số lượng và mở rộng chủng loại dược chất phóng xạ.

Việt Nam đã xây dựng năng lực nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo năng lượng nguyên tử qua nhiều thập kỷ, trong đó y tế là một lĩnh vực nổi bật. Sau khi Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam thành lập năm 1976, lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt được khôi phục, nâng cấp trong giai đoạn 1979 – 1984 và vận hành trở lại từ năm 1984 với sự hỗ trợ của chuyên gia Liên Xô (cũ).

Sau hơn 40 năm hoạt động, lò Đà Lạt trở thành cơ sở quan trọng phục vụ ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và đào tạo nhân lực. Dù công suất chỉ 0,5 MW, lò được Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đánh giá là một trong những lò phản ứng công suất thấp nhưng hoạt động hiệu quả.

Trong lĩnh vực y tế, lò Đà Lạt hiện cung cấp khoảng 80% dược chất phóng xạ cho các bệnh viện trên toàn quốc để phục vụ chẩn đoán và điều trị ung thư. Việt Nam cũng có máy gia tốc tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP HCM để sản xuất dược chất phục vụ chẩn đoán, nhưng một số dược chất phục vụ điều trị vẫn phải sản xuất từ lò phản ứng nghiên cứu.

“Hiện nay Việt Nam chỉ sản xuất được dưới 10 loại dược chất phóng xạ để điều trị ung thư, trong khi trên thế giới có thể có hàng chục đến hàng trăm loại,” ông Thành thông tin.

Để mở rộng năng lực này, Việt Nam đang triển khai dự án lò phản ứng nghiên cứu mới tại Đồng Nai. Theo ông Thành, khi đi vào vận hành, cơ sở mới sẽ giúp tăng số lượng và mở rộng chủng loại dược chất phóng xạ phục vụ điều trị ung thư.

Tháng 6/2026, UBND thành phố Đồng Nai ban hành Kế hoạch số 118/KH-UBND về triển khai chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050. Theo kế hoạch, đến năm 2030, Đồng Nai đặt mục tiêu hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành an toàn Trung tâm Nghiên cứu khoa học và công nghệ hạt nhân.

Dự án có quá trình chuẩn bị từ nhiều năm trước. Ngày 21/11/2011, Chính phủ Việt Nam và Liên bang Nga ký Hiệp định hợp tác về xây dựng Trung tâm Khoa học và Công nghệ hạt nhân tại Việt Nam; đến năm 2018, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học và công nghệ hạt nhân tại tỉnh Đồng Nai.

Ngày 10/1/2025, UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 92/QĐ-UBND phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Trung tâm Nghiên cứu khoa học và công nghệ hạt nhân tại xã Hàng Gòn cũ, nay là phường Hàng Gòn. Bộ Khoa học và Công nghệ làm chủ đầu tư, Ban Quản lý Dự án Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Công nghệ Hạt nhân là đại diện chủ đầu tư.

Trung tâm được quy hoạch trên diện tích khoảng 96,67 ha, với cấu phần chính là lò phản ứng hạt nhân công suất 10 MW, phục vụ sản xuất đồng vị phóng xạ cho y tế và công nghiệp; chiếu xạ pha tạp silic bằng neutron để sản xuất chất bán dẫn; nghiên cứu vật liệu và vật lý hạt nhân. Dự án cũng hướng tới đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.

“Với lò mới thì mình hoàn toàn có thể sản xuất được các loại phóng xạ rất nhiều chủng loại và số lượng, cung cấp đủ cho Việt Nam và có thể xuất khẩu cho các nước khác ở khu vực,” lãnh đạo Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam chia sẻ.

Đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ cung cấp thông tin tại buổi họp báo.
(Ảnh minh họa: ĐNM)

Ngoài y tế, kỹ thuật hạt nhân và công nghệ bức xạ còn được ứng dụng trong công nghiệp, tài nguyên và môi trường. Công nghệ chiếu xạ phục vụ kiểm dịch, xuất khẩu; kỹ thuật bức xạ được sử dụng để kiểm tra, đánh giá thiết bị tại các nhà máy lọc dầu, nhiệt điện, trong khi kỹ thuật đồng vị được dùng để nghiên cứu nguồn nước ngầm và đánh giá ô nhiễm.

Cùng với đầu tư cơ sở vật chất, nhu cầu nhân lực cũng được đặt ra. Ông Thành cho biết Việt Nam có thể chủ động đào tạo nhân lực cho các ứng dụng năng lượng nguyên tử trong nông nghiệp, công nghiệp và môi trường; mỗi địa phương có thể cần khoảng 5 – 10 cán bộ, tùy nhu cầu.

Với điện hạt nhân, yêu cầu nhân lực lớn hơn, mỗi nhà máy cần 600 – 700 người nếu sử dụng công nghệ phương Tây hoặc gần 1.000 người với công nghệ của Nga. Vì vậy, Việt Nam cần xây dựng năng lực đào tạo kỹ sư công nghệ điện hạt nhân trong nước, đồng thời chuẩn bị đội ngũ về quản lý, an toàn hạt nhân và nghiên cứu.

Phó Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân Phạm Văn Toàn cho biết định hướng của cơ quan quản lý là phát huy tối đa năng lực đội ngũ hiện có, đồng thời đẩy mạnh đào tạo lực lượng mới. Hợp tác quốc tế và đào tạo tại các quốc gia có nền công nghiệp hạt nhân phát triển cũng được xác định là một hướng bổ sung nhanh nguồn nhân lực và kinh nghiệm.

Hương Liên (tổng hợp)