Nạo vét luồng Vũng Tàu – Thị Vải để đón tàu lớn

Dự án nạo vét duy tu luồng hàng hải Vũng Tàu – Thị Vải và luồng hàng hải sông Dinh trên địa bàn TP.HCM đang hoàn tất thủ tục chuẩn bị đầu tư, nhằm duy trì năng lực khai thác, tiếp nhận tàu trọng tải lớn và bảo đảm an toàn hàng hải.

Theo Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, dự án vừa được chấp thuận vị trí đổ chất nạo vét và cấp giấy phép nhận chìm, hiện tiếp tục hoàn tất các thủ tục chuẩn bị đầu tư. Công trình dự kiến thực hiện trong năm 2026-2027, với tổng kinh phí hơn 420 tỷ đồng.

Dự án nằm trong Kế hoạch bảo trì công trình hàng hải năm 2026 được Bộ Xây dựng phê duyệt. Phạm vi thực hiện từ phao số “0” đến hết vũng quay trở tàu tại khu nước phía trước Bến cảng Nhà máy đóng tàu Ba Son, cùng tuyến luồng hàng hải Sông Dinh trên địa bàn TP.HCM.

Luồng Vũng Tàu – Thị Vải được thiết kế với cao độ đáy từ -14 m đến -15,5 m, bề rộng đáy 250-350 m. Trong khi đó, luồng hàng hải Sông Dinh có độ sâu từ -4,7 m đến -7 m và bề rộng đáy 80-100 m.

Duy trì luồng sâu cho cửa ngõ hàng hải

Trên tuyến Vũng Tàu – Thị Vải, phạm vi nạo vét được chia thành 2 đoạn, từ phao số “0” đến khu vực ngã ba sông Gò Gia – sông Cái Mép – sông Thị Vải và từ khu vực này đến hết vũng quay trở tàu trước Bến cảng Nhà máy đóng tàu Ba Son.

Luồng hàng hải Sông Dinh gồm 3 đoạn, từ ngoài biển nối tiếp luồng Vũng Tàu – Thị Vải vào sông Dinh đến cảng Vietsopetro; từ cảng Vietsopetro đến thượng lưu bến cảng Vina Offshore 200 m; và từ vị trí này đến ngã ba sông Cây Khế.

Việc duy trì các tuyến luồng có ý nghĩa trực tiếp với hệ thống cảng biển tại khu vực. Theo Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, cảng biển TP.HCM, Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng Nai giữ vai trò quan trọng đối với giao thông và xuất nhập khẩu hàng hóa của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Trong đó, khu bến Cái Mép – Thị Vải có lợi thế về độ sâu tự nhiên tại vịnh Gành Rái, cho phép tiếp nhận tàu container trọng tải 22.000-25.000 TEUs. Các tàu mẹ từ đây có thể đi thẳng đến thị trường châu Âu, châu Mỹ và châu Phi mà không phải trung chuyển qua Singapore, Hong Kong hay Thượng Hải.

Quy mô khai thác của khu bến cũng thay đổi đáng kể. Năm 2013, Cái Mép – Thị Vải có 8 tuyến/tuần tàu mẹ và tàu nội Á, trong khi hiện nay đã có 32 tuyến, gồm 25 tuyến quốc tế và 7 tuyến nội địa; riêng bến cảng Gemalink đã tiếp nhận tàu trọng tải tới 250.000 DWT.

Sự tham gia của các nhà khai thác cảng như SSA Marine, PSA, APMT và Hutchison Port Holding cùng các hãng tàu Mitsui O.S.K, Wanhai Lines góp phần thúc đẩy hoạt động tại khu vực. Sản lượng hàng hóa qua cảng biển Nhóm 4 đạt 358,4 triệu tấn, tương đương 21,4 triệu TEUs, với mức tăng bình quân 4,6% về tấn và 7,3% về TEUs.

Đến năm 2030, lượng hàng qua khu vực được dự báo đạt 499,75-564,15 triệu tấn, đồng nghĩa số lượt tàu lớn sẽ tiếp tục tăng.

Các khu bến Cái Mép hiện được thiết kế cho tàu 200.000 DWT tại Cái Mép và 250.000 DWT tại Cái Mép Hạ, hướng tới khả năng tiếp nhận tàu 300.000 DWT. Trong điều kiện đó, duy tu thường xuyên các tuyến luồng là yêu cầu cần thiết để khai thác hiệu quả năng lực đầu tư và giữ an toàn cho hoạt động hàng hải.

Hai tuyến luồng của dự án đều có dư địa khai thác đáng kể. Luồng hàng hải trên sông Thị Vải hiện phục vụ tàu đến 250.000 DWT giảm tải, còn luồng hàng hải Sông Dinh có khả năng tiếp nhận tàu đến 10.000 DWT.

Tuy nhiên, khu vực cửa sông chịu tác động của quá trình bồi lắng tự nhiên, biến đổi khí hậu và chế độ bán nhật triều không đều của Biển Đông. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện khai thác, khiến việc nạo vét duy tu phải được thực hiện để giữ ổn định chuẩn tắc luồng.

Với kế hoạch nạo vét trong giai đoạn 2026-2027, dự án nhằm duy trì chuẩn tắc các tuyến luồng hàng hải quan trọng, bảo đảm điều kiện khai thác tàu lớn.

Ngọc Duyên (tổng hợp)