ĐBSCL có thể ngập gần 1/5 diện tích vào năm 2100

Theo kịch bản biến đổi khí hậu năm 2025, ĐBSCL có thể ngập 18,44% diện tích vào năm 2100. Cà Mau có tỷ lệ diện tích ngập cao nhất, tiếp đến là An Giang, tập trung ở khu vực Kiên Giang cũ.

Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng nhiệt độ, nắng nóng, mưa cực đoan và nước biển dâng. Đối với Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), những thay đổi này đặt ra yêu cầu đánh giá nguy cơ ngập và lựa chọn giải pháp thích ứng phù hợp với điều kiện tự nhiên, sản xuất của từng địa phương.

Kịch bản biến đổi khí hậu năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy nhiệt độ trung bình năm tăng trong tất cả các kịch bản. Khi mức nóng lên toàn cầu tăng từ 1,5°C lên 3–4°C, số ngày nắng nóng cũng tăng rõ rệt. 

Tại nhiều khu vực miền Trung và miền Nam, số ngày có nhiệt độ từ 35°C trở lên có thể tăng trên 50 ngày mỗi năm ở các mức nóng lên cao. Sự gia tăng nhiệt độ có thể làm tăng các rủi ro liên quan đến sức khỏe, nhu cầu làm mát và điều kiện làm việc ngoài trời. 

Bên cạnh đó, mưa cực đoan cũng có xu hướng gia tăng. Số ngày có lượng mưa trên 100 mm tại một số khu vực có thể tăng khoảng 80–100% theo kịch bản cao, đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tiêu thoát nước và khả năng chống chịu của cơ sở hạ tầng.

Đối với nước biển dâng, kịch bản đến năm 2100 cho thấy mực nước biển dâng trung bình tại vùng biển Việt Nam khoảng 61,9 cm, mức cao nhất khoảng 82 cm. Theo kịch bản cao, tỷ lệ diện tích có nguy cơ ngập của ĐBSCL vào cuối thế kỷ này khoảng 18,44%.

Trong đó, Cà Mau có tỷ lệ diện tích ngập cao nhất, ở mức 32,44%; tiếp đến là An Giang với khoảng 29,13%, tập trung tại khu vực Kiên Giang cũ.

Cà Mau được dự báo có nguy cơ ngập lớn nhất vùng ĐBSCL, với 32,44% diện tích có thể bị ngập. (Ảnh minh họa: ĐNM)

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường lưu ý bản đồ ngập trong kịch bản là kết quả ngập tĩnh do nước biển dâng, chưa tính đến các yếu tố như sụt lún, thay đổi đường bờ, thủy triều, nước dâng do bão và các công trình bảo vệ bờ. Các chuyên gia khuyến nghị địa phương trước hết sử dụng kết quả để nhận diện khu vực có nguy cơ, không sử dụng độc lập để thiết kế công trình cụ thể.

Thích ứng với biến đổi khí hậu theo từng vùng sinh thái

Theo các chuyên gia, kịch bản biến đổi khí hậu mới cập nhật phương pháp, dữ liệu và độ phân giải; bổ sung thông tin về các yếu tố khí hậu, hiện tượng cực đoan, nước biển dâng và nguy cơ ngập. Kịch bản cũng cung cấp thông tin theo các ngưỡng nóng lên toàn cầu, đồng thời bổ sung đánh giá chuyên sâu cho khu vực đô thị và một số lĩnh vực nhạy cảm.

PGS-TS Lê Anh Tuấn, chuyên gia biến đổi khí hậu tại Đại học Cần Thơ, cho rằng việc xây dựng và cập nhật kịch bản phù hợp với tình hình thực tế là cần thiết. Tuy nhiên, khi sử dụng các số liệu dự báo cho tương lai hàng chục, thậm chí hàng trăm năm, cần thận trọng vì đời sống và sản xuất thực tế diễn ra theo mùa vụ và từng năm.

Theo ông Tuấn, mỗi khu vực có hệ sinh thái khác nhau, cây trồng và vật nuôi cũng có đặc tính riêng nên cần giải pháp thích ứng phù hợp. Những giống lúa chịu mặn do các nhà khoa học nông nghiệp phát triển là giải pháp thích ứng đã phát huy hiệu quả trong những năm qua.

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia sinh thái học ĐBSCL, đánh giá việc cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu là cần thiết. Theo ông, cách thích ứng phù hợp với vựa lúa miền Tây vẫn là tinh thần “thuận thiên” như Nghị quyết 120 năm 2017 của Chính phủ.

Ông Thiện cho rằng quy hoạch cần dựa trên đặc điểm từng vùng sinh thái để phát huy giá trị của mỗi vùng: nơi phù hợp trồng lúa tiếp tục phát triển lúa, vùng trồng cây ăn quả tập trung phát triển cây ăn quả; vùng ven biển bị ngập sẽ phát triển trồng rừng kết hợp với nuôi trồng thủy sản. Việc điều chỉnh tư duy và phương thức sản xuất theo điều kiện mặn – ngọt có thể mở đường cho những hệ thống canh tác phù hợp hơn.

Căn cứ khoa học trong công tác quy hoạch

Ông Nguyễn Hồng Nguyên, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM, cho biết thành phố vừa là trung tâm kinh tế lớn của cả nước, vừa có vùng ven biển và mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc nên chịu tác động từ triều cường, mưa lớn, xâm nhập mặn và nắng nóng đô thị.

Ông Nguyên cho biết Sở Nông nghiệp và Môi trường sẽ sử dụng kịch bản biến đổi khí hậu năm 2025 làm căn cứ khoa học cho công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và đầu tư thích ứng của thành phố đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2075.

Đối với nguy cơ ngập, Sở lưu ý bản đồ hiện tại là bản đồ ngập tĩnh do nước biển dâng, được xây dựng theo kịch bản cao và chưa xét đến sụt lún đất, thủy triều, đê bao cùng các yếu tố động lực khác. Vì vậy, để phục vụ thiết kế công trình và phòng, chống thiên tai, cần tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu theo điều kiện đặc thù của từng địa phương.

Thanh Hy (tổng hợp)