Chuối sấy Chứa Chan: Giữ nghề từ những quả chuối trên đồi đá

Dọc những bậc thang dẫn lên núi Chứa Chan, khi dòng khách hành hương đã thưa dần, hàng chục lò sấy chuối vẫn đỏ lửa suốt đêm. Từ thứ quả từng mọc hoang trên núi đá, người dân nơi đây đã làm nên một nghề tồn tại hàng chục năm, tạo ra những món quà quê mang hương vị riêng của Đồng Nai.

Từ thứ quả bị bỏ quên trên núi thiêng

Núi Chứa Chan, nơi có chùa Gia Lào nổi tiếng, từ lâu đã gắn với những vạt chuối mọc rải rác trong các thung lũng, khe nước và sườn núi.

Trong số đó có chuối hột rừng, loại quả nhỏ nhưng khi chín có mùi thơm đậm và vị ngọt đặc trưng. Trước đây, người dân địa phương chủ yếu hái về ăn, ít ai nghĩ thứ quả mọc hoang ấy có thể trở thành một sản phẩm hàng hóa.

Khoảng hai mươi bảy năm trước, ông Nguyễn Xuân Sơn, chủ Cơ sở sản xuất chuối sấy sên đường Phượng, nhận thấy nguồn chuối rừng quanh núi chưa được tận dụng. Ông mang chuối về chế biến thành sản phẩm bán cho khách hành hương lên chùa Gia Lào.

Món quà từ núi rừng dần được nhiều người biết đến. Từ một cơ sở nhỏ, những lò sấy chuối lần lượt xuất hiện dọc đường lên núi, hình thành một nghề gắn với dòng khách hành hương.

Vào những tháng cao điểm, nhiều lò sấy hoạt động suốt 24 giờ. Ngoài chuối hột rừng, người dân còn chế biến chuối sứ, chuối bơm thành chuối sấy sên đường và chuối hồng sấy dẻo, hay còn gọi là chuối dẻo.

Giữ vị ngọt trong từng lớp vỏ lụa

Làm chuối sấy tưởng đơn giản nhưng để có được miếng chuối dẻo thơm lại cần sự tỉ mỉ.

Với chuối hồng sấy dẻo, người làm chỉ tước lớp vỏ dai bên ngoài, giữ lại lớp vỏ lụa sát phần thịt quả rồi đem phơi nắng tự nhiên. Khi đạt độ dẻo vừa phải, chuối vẫn giữ được vị ngọt dịu và mùi thơm vốn có.

Chuối sấy sên đường lại có cách làm khác. Quả chuối được chiên, sau đó sên cùng đường đến khi lớp ngoài giòn, tạo cảm giác giòn rụm khi thưởng thức.

Sản phẩm chuối sấy Chứa Chan. (Ảnh minh họa: ĐNM)

Nhịp sản xuất cũng phụ thuộc vào mùa hành hương. Dịp Tết, từ mùng Một đến hết tháng Giêng, lượng khách lên chùa Gia Lào tăng mạnh. Các cơ sở sản xuất theo đó tăng lượng hàng lên gấp ba, bốn lần ngày thường.

Không chỉ có chuối sấy, quanh núi Chứa Chan còn hình thành một hệ sinh thái ẩm thực phục vụ khách hành hương, trong đó có những quán bánh xèo rau rừng đã tồn tại nhiều năm.

Chuối mọc trên đá, ngọt từ đất khô cằn

Câu chuyện về chuối Đồng Nai không chỉ bắt đầu ở những lò sấy. Phía sau mỗi túi chuối dẻo còn là những vùng đồi đá ở Thống Nhất, Trảng Bom, nơi cây chuối vẫn sinh trưởng trên những vùng đất tưởng như khắc nghiệt.

Theo ông Trương Cẩm Bình, nông dân trồng chuối ở Thống Nhất, đồi đá lại có những điều kiện phù hợp với cây chuối. Ban đêm, đá giữ độ mát cho đất; ban ngày, đất đá thoát nước tốt nên nấm bệnh ít phát triển.

Những cây chuối chỉ cần được đặt vào các hốc đất giữa đá ong, đá mồ côi rồi tự bám rễ, sinh thêm nhiều lứa mới. Người trồng không phải chăm sóc quá nhiều, trong khi cây cho thu hoạch quanh năm.

Điều đáng nói là những buồng chuối mọc trên vùng đất khô cằn ấy lại được người dân đánh giá có vỏ mỏng, vị thơm đậm hơn so với chuối trồng ở vùng đất màu mỡ.

Cận Tết, sự khác biệt ấy càng thể hiện rõ qua giá bán. Chuối bơm có thời điểm chỉ hơn 1.000 đồng/kg, nhưng khi được giá có thể lên 4.500-5.000 đồng/kg. Chuối sứ ngày thường khoảng 7.000-8.000 đồng/kg, đến cận Tết có thể tăng lên 25.000-30.000 đồng/kg, vừa phục vụ nhu cầu chưng bàn thờ, vừa làm nguyên liệu chế biến đặc sản.

Từ nguồn nguyên liệu này, ở xã Thống Nhất đã hình thành nhiều sản phẩm chế biến từ chuối như chuối sấy dẻo, chuối chiên, chuối ép, snack chuối. Một số sản phẩm không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn được xuất khẩu.

Chuối sấy dẻo còn được xuất khẩu. (Ảnh minh họa: ĐNM)

Khi cây chuối truyền thống trở thành điểm tựa

Đồng Nai hiện là một trong những vùng trồng chuối cấy mô xuất khẩu lớn của cả nước, với sản lượng trên 700.000 tấn mỗi năm. Thế nhưng phía sau những con số lớn ấy là một thị trường không phải lúc nào cũng thuận lợi.

Đầu năm 2024, giá chuối xuất khẩu giảm mạnh. Ông Nguyễn Lê Trung, chủ đội đóng gói chuối xuất khẩu tại Thống Nhất, cho biết có thời điểm lượng chuối đưa về xưởng chỉ còn hơn một nửa so với năm trước. Doanh nghiệp xuất khẩu kiểm soát chất lượng chặt, nhiều lô hàng có nguy cơ bị trả lại.

Ông Hà Văn Mạnh, chủ vườn chuối ở Gia Tân, Thống Nhất, có 5,2ha chuối đang thu hoạch trên đất thuê với giá 100 triệu đồng/ha/năm. Có thời điểm chuối xuất khẩu chỉ còn 1.000-2.000 đồng/kg, khiến người trồng đối mặt với áp lực lớn.

Trong bối cảnh ấy, những giống chuối bản địa trên đồi đá lại có một cách tồn tại khác.

Theo ông Nguyễn Thế Vinh, ở xã Thống Nhất, địa phương vẫn còn hàng trăm hécta trồng các giống chuối bản địa. Đây là những loại cây không phụ thuộc quá lớn vào một thị trường xuất khẩu cụ thể. Chuối đã trở thành nguyên liệu quen thuộc trong đời sống và chế biến thực phẩm nên vẫn có đầu ra.

Sự khiêm tốn ấy vô tình trở thành một lợi thế.

Không chạy theo những đơn hàng lớn, không phụ thuộc hoàn toàn vào biến động của thị trường bên kia biên giới, những vườn chuối trên đồi đá vẫn cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến quanh năm.

Giữ một nghề cũng là giữ một phần hương vị quê nhà

Ngày nay, dưới chân núi Chứa Chan, những lò sấy chuối vẫn đỏ lửa mỗi đêm. Mùa hành hương, du khách dừng chân mua vài túi chuối hồng sấy dẻo, chuối sấy sên đường mang về làm quà.

Những cơ sở đã gắn bó với nghề hàng chục năm vẫn tiếp tục làm theo cách của mình. Ở Thống Nhất, địa phương cũng từng bước xây dựng thương hiệu cho chuối sứ, chuối bơm và các sản phẩm trái cây thế mạnh, hướng tới đưa những đặc sản này vào bản đồ ẩm thực Đồng Nai.

Một nghề bắt đầu từ thứ quả mọc hoang trên núi, qua bàn tay của người dân, đã trở thành sinh kế và một phần ký ức của vùng đất.

Đêm xuống, khi những chuyến xe chở chuối cấy mô xuất khẩu còn chờ giá ở đầu làng, lửa trong các lò sấy chuối sứ, chuối bơm trên đồi đá vẫn cháy đều. Ngọn lửa ấy không chỉ làm khô những quả chuối. Nó còn giữ lại một nghề, một cách làm ăn và một hương vị quê nhà đã được người dân nơi đây bền bỉ gìn giữ qua nhiều năm.

An Vui (tổng hợp)