Từng là thức trà quen thuộc trong những gia đình ở Phú Hội, “trà Phú Hội” có lúc đứng trước nguy cơ mai một khi đất vườn thu hẹp, nghề làm trà không còn mang lại lợi nhuận đủ hấp dẫn. Năm 2018, một cán bộ trẻ bắt đầu hành trình khôi phục thương hiệu. Từ những gốc trà còn sót lại giữa vùng đất đô thị hóa, một câu chuyện về giữ nghề, giữ vị quê và tìm lại giá trị cho sản vật địa phương đang được viết tiếp.
Vùng đất trăm năm và dòng nước làm nên vị trà
Phú Hội là một trong những vùng đất được hình thành khá sớm trong lịch sử khai khẩn Đồng Nai. Xưa kia, nơi đây thuộc tổng Thành Tuy, huyện Long Thành, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa. Theo lời kể của những người dân cố cựu, cây trà và nghề làm trà thủ công đã xuất hiện ở vùng đất này từ khoảng đầu thế kỷ XX.
Người xưa có câu “Nước Mạch Bà – trà Phú Hội”, đặt hai sản vật cạnh nhau như một sự gắn kết tự nhiên giữa đất và nước.

Phú Hội mang địa hình bán sơn địa, những gò đồi cao xen vùng trũng thấp, giữa các khu vực là hệ thống kênh rạch. Đất cao được người dân tận dụng trồng trà, cây ăn trái; vùng thấp dành cho lúa nước và sen.
Bởi vậy, trà ở Phú Hội không hình thành những vùng chuyên canh rộng lớn như một số vùng trà khác. Cây trà thường được trồng xen trong vườn nhà. Trên những mảnh đất gò, vài gốc trà có thể đứng cạnh những loại cây ăn trái khác, lặng lẽ tồn tại qua năm tháng.
Nhưng điều được người dân nhắc đến nhiều nhất khi nói về trà Phú Hội lại nằm dưới lòng đất. Đó là Mạch Bà – hệ thống mạch nước ngầm chảy qua khu vực Phú Hội.
Theo những người làm trà lâu năm, trà Phú Hội khi pha bằng nước Mạch Bà mới thể hiện được trọn vẹn hương vị đặc trưng. Ông Đặng Tư, một người dân cao niên trong vùng, từng cho rằng dù cùng là trà Phú Hội nhưng khi pha bằng nguồn nước nơi khác, hương vị không thể giống với tách trà pha bằng nước quê nhà.

(Ảnh minh họa: ĐNM)
Niềm tin ấy có thể khó đo đếm bằng những con số. Nhưng nó cho thấy người Phú Hội nhìn trà không chỉ như một sản phẩm nông nghiệp. Trà thuộc về vùng đất, thuộc về nguồn nước và thuộc về cách người dân nơi đây sống cùng cây trà.
Một thứ hương vị vì thế không dễ dàng mang đi nơi khác.
Bàn tay người làm trà giữ lại hương vị xưa
Điều làm nên trà Phú Hội không chỉ là đất và nước. Đó còn là bàn tay người làm trà.
Quy trình chế biến truyền thống gần như được giữ nguyên qua nhiều thế hệ. Lá trà được hái từ sáng sớm, khi trên lá còn vương hơi sương. Sau đó, lá được đem phơi dưới nắng nhẹ để héo bớt trước khi bước vào công đoạn quan trọng nhất: vò trà bằng tay.
Đôi bàn tay vừa phải đủ lực để lá trà chuyển dạng, vừa phải đủ khéo để tạo nên hình xoắn đặc trưng.
Sau khi vò, trà tiếp tục được phơi khô khoảng 6-8 giờ dưới nắng. Một số gia đình còn sao trà trên bếp than để tăng hương vị. Tùy bí quyết, người làm có thể ướp thêm lá dứa hoặc hoa nhài.
Không có dây chuyền máy móc cầu kỳ. Không có những công đoạn được chuẩn hóa bằng tiếng động của nhà xưởng. Thay vào đó là nắng, gió, bếp than và kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều năm.
Trà thành phẩm có màu nâu đen mộc mạc. Khi pha, nước trà chuyển sang màu đỏ nâu sóng sánh, hương thơm lan tỏa chậm, vị ngọt hậu nhẹ nhàng và dịu nơi đầu lưỡi. Nhưng có lẽ giá trị lớn nhất của tách trà lại nằm ngoài chiếc ấm.
Ở Phú Hội, bình trà nóng từng là nơi người thân ngồi lại với nhau, hàng xóm gặp nhau, câu chuyện trong nhà được nối sang chuyện xóm làng. Một tách trà vì vậy vừa là thức uống, vừa là một phần đời sống.
Và khi nghề làm trà đứng trước nguy cơ biến mất, điều có nguy cơ mất đi không chỉ là một sản phẩm. Đó còn là một khoảng không gian văn hóa đã tồn tại trong đời sống người dân suốt nhiều thế hệ.
Khi trà Phú Hội đứng trước nguy cơ mất tên
Có một thời điểm, câu chuyện về trà Phú Hội không còn là chuyện giữ hay phát triển thương hiệu. Mà là chuyện liệu còn có thể giữ được nghề hay không.
Khoảng năm 2020, chính quyền địa phương khi đó ghi nhận toàn xã chỉ còn dưới 40 ha diện tích cây ăn trái và trà. Trong khi đó, Nhơn Trạch đang chuyển mình mạnh mẽ với tốc độ đô thị hóa nhanh. Đất vườn dần nhường chỗ cho khu dân cư, khu công nghiệp và những công trình mới.
Cây trà vốn không mang lại lợi nhuận nhanh và cao như một số loại cây trồng khác nên ngày càng ít được người dân chú trọng.
Những gốc trà lâu năm vẫn còn đó, nhưng diện tích không được mở rộng.
Một nghề từng hiện diện trong nhiều gia đình bắt đầu thu hẹp ngay trên quê hương của mình. Đó là lúc câu chuyện của Nguyễn Huy Sang bắt đầu.
Năm 2018, khi đang công tác tại xã Phú Hội, anh được giao nhiệm vụ khôi phục thương hiệu trà Phú Hội. Công việc tưởng như đơn giản nhưng thực tế lại bắt đầu từ một nền tảng khá mong manh: nghề còn người làm nhưng sản phẩm chưa có chỗ đứng rõ ràng trên thị trường.
Năm 2019, anh xây dựng kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu, khôi phục thương hiệu, mở cửa hàng giới thiệu sản phẩm và tìm đầu ra cho trà.
Cuối năm đó, một tổ hợp tác gồm 32 hộ trồng và chế biến trà được thành lập.
Trà thành phẩm bắt đầu được cung cấp thường xuyên cho cửa hàng, đồng thời đưa đến các quán cà phê tại Biên Hòa và Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ảnh minh họa: ĐNM)
Những con số ấy có thể chưa đủ lớn để tạo nên một cuộc thay đổi ngoạn mục. Nhưng với một nghề từng đứng trước nguy cơ mất dấu, 32 hộ dân cùng quay trở lại với cây trà đã là một tín hiệu đáng kể.
Bởi phục hồi một thương hiệu không thể chỉ bắt đầu từ chiếc nhãn trên bao bì. Nó phải bắt đầu từ việc có người tiếp tục trồng cây. Có người tiếp tục làm trà.
Và có người còn muốn uống thứ trà được làm từ chính vùng đất ấy.
Từ một nghề cũ đến câu chuyện du lịch của Nhơn Trạch
Hôm nay, vùng nguyên liệu của tổ hợp tác đã đạt khoảng 8 ha, với 32 hộ duy trì trồng và chế biến trà. Trà thành phẩm có giá khoảng 600.000-900.000 đồng/kg, đặc biệt được tiêu thụ tốt vào dịp Tết khi nhu cầu dùng trà và mua trà làm quà tăng lên.
Giá trị ấy quan trọng ở chỗ nó giúp người trồng nhìn thấy rõ hơn hiệu quả kinh tế của cây trà.
Nhưng câu chuyện hồi sinh không dừng ở việc bán trà.
Cơ sở Trà Phú Hội Phúc Bảo do chính anh Nguyễn Huy Sang làm chủ đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao, đồng thời xây dựng mô hình tham quan trải nghiệm dành cho du khách.
Đến đây, du khách có thể trực tiếp tham gia những công đoạn vốn từng chỉ diễn ra trong các gia đình làm trà: hái trà, phơi, vò, ướp, sao trà rồi thưởng thức thành phẩm ngay tại vườn.
Một công việc tưởng như rất bình thường của người nông dân bỗng trở thành trải nghiệm đối với du khách.
Đó cũng là cách một sản phẩm nông nghiệp có thể bước sang một câu chuyện khác: từ sản phẩm thành trải nghiệm, từ nghề thành văn hóa, từ một tách trà thành ký ức về vùng đất.
Mỗi năm, cơ sở đón hàng trăm lượt khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan, tìm hiểu nghề làm trà. Tháng 7-2026, đoàn khảo sát của Trung tâm Xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch thành phố Đồng Nai đã đến vườn trà Phú Hội để đánh giá tiềm năng phát triển sản phẩm du lịch phục vụ du khách quốc tế.
Đó là một hướng đi đáng chú ý với một vùng đất đang thay đổi rất nhanh.
Bởi giữa những khu công nghiệp, khu dân cư và nhịp sống đô thị ngày càng rõ nét, một vườn trà lâu năm có thể trở thành nơi để du khách nhìn thấy một Nhơn Trạch khác — chậm hơn, xanh hơn và gắn với những ký ức lâu đời hơn.
Ở khu phố Phú Hội hôm nay, những gốc trà hàng trăm năm tuổi vẫn đứng giữa những khu vườn.
Chúng không ồn ào. Không cạnh tranh với những công trình mới mọc lên xung quanh. Chỉ lặng lẽ xanh qua từng mùa, như những nhân chứng của một vùng quê đang đổi thay.
Có thể rồi đây, trà Phú Hội sẽ không trở lại vị trí từng có trong quá khứ. Nhưng điều quan trọng là nó không biến mất.
Bởi một đặc sản quê nhà đôi khi không cần phải trở thành sản phẩm nổi tiếng nhất. Nó chỉ cần đủ giá trị để người dân tiếp tục trồng, đủ sức hấp dẫn để người khác tìm đến và đủ câu chuyện để thế hệ sau hiểu rằng trước khi vùng đất này có những khu đô thị, khu công nghiệp, nơi đây đã từng có những gốc trà, những ấm nước Mạch Bà và những buổi người dân ngồi bên nhau kể chuyện.
Trà Phú Hội từng suýt mất tên ngay trên quê hương mình. Nhưng những gốc trà còn lại đang cho thấy một điều giản dị: chỉ cần có người chịu cúi xuống chăm lại một gốc cây, nâng lại một nghề cũ và kể lại câu chuyện của nó, một phần ký ức của vùng đất vẫn có thể được giữ lại.
An Vui (tổng hợp)