Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ cấp mã số vùng trồng phục vụ thị trường trong nước xuống còn 3 ngày làm việc, trong khi hồ sơ phục vụ xuất khẩu được giải quyết không quá 10 ngày làm việc. Đề xuất nằm trong dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói.
Ngày 16/7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết đang lấy ý kiến rộng rãi trên cả nước cho dự thảo nghị quyết trên, theo hướng rút gọn thành phần hồ sơ, chuyển sang thực hiện trực tuyến và tăng cường quản lý bằng dữ liệu số.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp chỉ đạo cơ quan soạn thảo quy định cụ thể hơn về khâu hậu kiểm để địa phương thuận lợi triển khai. Nhiều ý kiến đóng góp cho dự thảo còn đề nghị làm rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong xác nhận thông tin đất đai.

Mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói là công cụ quản lý giúp truy xuất nguồn gốc nông sản, phục vụ cả tiêu thụ nội địa lẫn xuất khẩu. Theo cơ quan soạn thảo, thông tin về vùng trồng, cơ sở đóng gói sẽ được quản lý tập trung, kết nối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc và các hệ thống liên quan khác.
Hậu kiểm mã số vùng trồng phải cụ thể hơn
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh mục tiêu đổi mới cơ chế cấp mã số vùng trồng không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn phục vụ quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc và bảo đảm an toàn thực phẩm cho cả thị trường trong nước lẫn xuất khẩu. Ông yêu cầu quy định về hậu kiểm phải có biểu mẫu, biên bản và phương thức kiểm tra rõ ràng để địa phương dễ thực hiện.
Thứ trưởng lưu ý riêng thời hạn 10 ngày đối với hồ sơ đăng ký xuất khẩu không nhằm kéo dài thủ tục, mà để cơ quan chuyên môn có đủ thời gian kiểm tra việc đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của từng thị trường.
Ông cảnh báo nếu một vùng trồng không đạt tiêu chuẩn nhưng vẫn được gửi sang nước nhập khẩu rồi bị trả lại, hậu quả sẽ không dừng ở doanh nghiệp hay địa phương đó mà ảnh hưởng đến uy tín chung của nông sản Việt Nam.
Xây dựng dữ liệu vùng trồng đồng bộ, hình thành vùng nguyên liệu lớn
Lãnh đạo Bộ đề nghị các địa phương coi đây là dịp xây dựng đồng bộ cơ sở dữ liệu mã số vùng trồng trên toàn địa bàn. Thứ trưởng gợi mở khả năng triển khai một chiến dịch tương tự chiến dịch xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trước đây, nhằm hoàn thiện dữ liệu trong thời gian ngắn và tạo nền tảng cho quản lý lâu dài. Cùng với đó là thúc đẩy liên kết sản xuất, hình thành hợp tác xã, tổ hợp tác và vùng nguyên liệu đủ lớn.
“Nếu mã số có diện tích nhỏ, sẽ khó tạo ra vùng nguyên liệu cạnh tranh”, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp chia sẻ và cho rằng khi hình thành các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn, địa phương vừa thuận lợi quản lý, vừa tạo đà xây dựng thương hiệu nông sản.
An Tâm (tổng hợp)