Nữ giáo sư mở lối cho hơn 20.000 em bé IVF Việt Nam

TPHCM – Từ nguồn kinh phí tự dành dụm và quyết tâm theo đuổi kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng đã góp phần đặt nền móng cho IVF tại Việt Nam, mở ra cơ hội làm cha mẹ cho hàng chục nghìn gia đình hiếm muộn.

Cuối thập niên 1980, khi giữ cương vị Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng quyết định theo đuổi kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) sau chuyến công tác tại Bangkok năm 1984. Tại đây, bà tận mắt chứng kiến nhiều phụ nữ hiếm muộn có cơ hội sinh con nhờ thành tựu y học mới.

Trở về Việt Nam trong điều kiện ngành y tế còn nhiều thiếu thốn, bà dùng tiền lương giáo sư tại Pháp để mua thiết bị, đồng thời tìm kiếm học bổng đưa bác sĩ và kỹ thuật viên sang Pháp, Singapore học tập. Nhìn lại chặng đường ấy, bà kể: “Lúc đó tôi không suy nghĩ gì nhiều, cứ đặt quyết tâm bằng mọi giá phải làm được IVF cho người Việt Nam”.

Hành trình vượt qua nhiều rào cản để đưa IVF về Việt Nam

Giữa thập niên 1990, IVF vẫn là lĩnh vực rất mới đối với y học trong nước. Trong khi nhiều quốc gia đã triển khai kỹ thuật này từ cuối thập niên 1970, Việt Nam vẫn tập trung vào các chương trình kế hoạch hóa gia đình.

Ngay trong một kỳ họp Hội đồng Nhân dân TPHCM, từng có ý kiến chất vấn về việc ngành y tế có biết bác sĩ Ngọc Phượng “đang sản xuất ra con người” hay không. Những tranh luận ấy cho thấy IVF khi đó vẫn là khái niệm mới mẻ đối với xã hội.

Năm 1996, chương trình IVF chính thức được triển khai với sự hỗ trợ của các chuyên gia Pháp và nguồn thuốc tài trợ cho 37 bệnh nhân đầu tiên. Đến rạng sáng 30/4/1998, bé trai Mai Quốc Bảo chào đời sau ca mổ cấp cứu vì tim thai suy; vài giờ sau, hai bé gái Phạm Tường Lan Thy và Lưu Tuyết Trân tiếp tục ra đời khỏe mạnh, đánh dấu ba trường hợp IVF thành công đầu tiên tại Việt Nam.

Quyết định theo đuổi IVF của bác sĩ Ngọc Phượng được đưa ra trong bối cảnh chính sách dân số khi đó ưu tiên giảm sinh. Tuy nhiên, từ thực tế của các gia đình hiếm muộn, bà vẫn kiên trì tìm cách giúp họ có cơ hội đón con bằng chính thành tựu của y học hiện đại.

Theo BSCKII Trần Ngọc Hải, Phó Giám đốc điều hành Bệnh viện Từ Dũ, riêng bệnh viện đã có hơn 16.300 trẻ chào đời nhờ kỹ thuật IVF. Tỷ lệ thai lâm sàng hiện vượt 45%, phản ánh hiệu quả của lĩnh vực mà nhiều thế hệ y bác sĩ đã dày công xây dựng.

GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng (đứng thứ hai từ phải sang) và tập thể y bác sĩ trong hành trình làm nên kỳ tích với em bé ống nghiệm đầu tiên của Việt Nam. (Ảnh minh họa: ĐNM)

Dù IVF hiện đã được triển khai tại gần 70 cơ sở hỗ trợ sinh sản trên cả nước, GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng vẫn dành sự quan tâm cho những gia đình chưa đủ điều kiện tiếp cận kỹ thuật này. Chi phí điều trị vẫn là trở ngại đối với không ít cặp vợ chồng ở vùng nông thôn.

Từ năm 2014, bà khởi xướng chương trình “Ươm mầm Hạnh phúc” nhằm hỗ trợ miễn phí cho các gia đình khó khăn. Đến nay, chương trình đã đồng hành cùng gần 700 cặp vợ chồng trên khắp cả nước.

Ở tuổi 81, nữ bác sĩ vẫn giữ nếp dậy sớm mỗi ngày. Hành trình bắt đầu từ những thiết bị tự mua bằng tiền lương tích cóp năm nào đã góp phần mang đến niềm vui làm cha mẹ cho hơn 20.000 em bé IVF tại Việt Nam, đồng thời tiếp tục gieo hy vọng cho nhiều gia đình đang mong chờ tiếng trẻ thơ.

Hương Liên (tổng hợp)