ĐỒNG NAI – Lựa chọn giống quyết định tới 80% thành bại của chu kỳ khai thác mủ 20-25 năm, đẩy năng suất từ 1,5 tấn lên hơn 3 tấn/ha/năm. Bộ giống mủ – gỗ thế hệ mới do Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam lai tạo đang thay thế nhanh các dòng vô tính cũ tại thủ phủ Đông Nam Bộ.
Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) cùng các viện nghiên cứu đầu ngành đã định hướng lại quy hoạch cơ cấu cây trồng giai đoạn 2022-2026 và tầm nhìn đến năm 2030 trên phạm vi toàn quốc. Chiến lược thay thế các dòng cây cũ mẫn cảm với dịch bệnh bằng các dòng vô tính sinh trưởng khỏe đang được triển khai mạnh mẽ tại Đông Nam Bộ và Tây Nguyên kể từ cuối năm 2021. Quyết định này nhằm giúp hàng ngàn nông trường, hộ tiểu điền tối ưu hóa sản lượng, tiết giảm chi phí chăm sóc và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Vườn cao su trưởng thành tại vùng đất đỏ bazan phía Bắc thành phố Đồng Nai, các cây thẳng tắp đang trong giai đoạn khai thác mủ. (Ảnh: Đồng Nai Mới)
Tổng quan các giống cao su cao sản đang trồng tại Việt Nam
Diện tích trồng cao su tại Việt Nam đã đạt 971.626 ha vào năm 2017 và duy trì quy mô lớn với hơn 911.200 ha tính đến hết năm 2023. Trong số này, diện tích cho thu hoạch mủ chiếm gần 723.200 ha, giúp Việt Nam xuất khẩu 2,14 triệu tấn cao su thiên nhiên ra thị trường toàn cầu trong năm 2023.
Để duy trì vị thế xuất khẩu hàng đầu, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam đã ban hành Quyết định số 250/QĐ-HĐQTCSVN ngày 01/11/2021 nhằm quy hoạch lại cơ cấu bộ giống cho giai đoạn 2022-2026 và định hướng đến năm 2030.
Hệ thống cơ cấu này phân loại các giống theo 3 nhóm chính. Bảng I dành cho sản xuất diện rộng chiếm 80% diện tích, Bảng II trồng quy mô vừa không quá 15% diện tích, và Bảng III dùng để khảo nghiệm với tỷ lệ tối đa 5%. Việc phân bổ giống được thực hiện nghiêm ngặt dựa trên điều kiện của từng vùng sinh thái như Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ và miền núi phía Bắc.
Các vùng này tiếp tục được chia nhỏ thành các tiểu vùng A, B, C dựa trên 3 yếu tố cốt lõi là hạng đất, lượng mưa và mức độ áp lực bệnh hại. Mục tiêu của quy hoạch là ưu tiên các giống cao su mủ – gỗ hoặc gỗ – mủ, đáp ứng tiêu chuẩn sinh trưởng khỏe, rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản và tối đa hóa lợi nhuận kinh tế.
PB 235 – giống chủ lực một thời của Tập đoàn Cao su Việt Nam
PB 235 là giống cao su nhập nội từ Malaysia, được lai tạo từ tổ hợp PB 5/51 và PB S/78, từng giữ vai trò chủ lực tại Việt Nam từ cuối thập niên 1970 đến cuối thập niên 1990. Giống cây này đặc trưng bởi thân chính thẳng cao, cành phụ tự rụng, vỏ trơn láng dễ cạo và có khả năng cung cấp trữ lượng gỗ lớn vào cuối chu kỳ kinh tế.
Tốc độ sinh trưởng của PB 235 rất mạnh mẽ trong giai đoạn kiến thiết cơ bản từ 3 đến 7 năm, giúp rút ngắn thời gian chờ đợi đưa vào khai thác mủ. Tại các khu vực thuận lợi như Đông Nam Bộ, vanh thân cây có thể đạt trung bình từ 46,3 cm đến 53,5 cm vào năm thứ 7.
Theo dữ liệu của Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam, PB 235 cho sản lượng khoảng 630 kg/ha/năm trong năm đầu tiên và đạt mức bình quân 1,6 tấn/ha/năm trong 12 năm đầu khai thác. Tại một số vùng như Dầu Tiếng (địa bàn Bình Dương cũ, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), năng suất có thể lên tới 1,8-1,9 tấn/ha/năm vào năm cạo thứ 9. Hàm lượng cao su khô (DRC) của giống này dao động ổn định ở mức 37-40%, mủ có màu vàng sáng và thường tập trung sản lượng cao vào những tháng cuối năm.
Tuy nhiên, PB 235 bộc lộ nhiều nhược điểm nghiêm trọng khiến Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam chính thức ngừng khuyến cáo trồng diện rộng từ năm 2000. Các tài liệu kỹ thuật của VRG cảnh báo cây cực kỳ mẫn cảm với bệnh phấn trắng (Oidium heveae), khả năng chống chịu gió bão rất kém và dễ bị gãy cành khi trồng ở độ cao trên 600 m.
Giống PB 235 cũng rất dễ bị hội chứng khô miệng cạo nếu lạm dụng thuốc kích thích, do đó chỉ phù hợp với chế độ cạo thưa như D3 hoặc D4. Đến năm 2026, các chuyên gia nông nghiệp hoàn toàn không khuyến cáo trồng mới giống PB 235, hướng nông dân sang các dòng cao sản ưu việt hơn.

RRIV 124 và RRIV 209 – đột phá lai tạo của Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam
Thành tựu nổi bật nhất của Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam (RRIV) là việc lai tạo thành công các thế hệ giống lai hoa đáp ứng xuất sắc mục tiêu mủ – gỗ, tiêu biểu là RRIV 124 và RRIV 209.
Giống RRIV 124 (Lai Hoa 90/952) được lai tạo từ năm 1982 với cặp bố mẹ là RRIM 600 và PB 5/51, chính thức được đưa vào cơ cấu quốc gia từ năm 2002. Cây có tốc độ sinh trưởng cực nhanh, thân thẳng tròn đều, vỏ tái sinh dày mềm rất thuận lợi cho công tác cạo mủ.
Năng suất của RRIV 124 duy trì ổn định ở mức 2,0-2,5 tấn/ha/năm tại vùng Đông Nam Bộ, đáp ứng rất tốt với thuốc kích thích Ethephon. Giống này có khả năng kháng bệnh phấn trắng và nấm hồng từ trung bình đến tốt, nhưng người trồng cần đặc biệt cảnh giác với bệnh rụng lá Corynespora trong mùa mưa. Hiện tại, diện tích trồng RRIV 124 đang được khuyến cáo hạn chế mở rộng thêm do mất cân đối về cơ cấu so với các dòng mới.
Giống RRIV 209 được lai tạo vào năm 1994 và khuyến cáo trồng diện rộng từ năm 2017, hiện là ngôi sao sáng nhất trong cơ cấu giống. Đây là dòng vô tính có khả năng mang lại năng suất khủng, đạt trên 2,5-3,0 tấn/ha/năm, thậm chí vươn tới 3,5 tấn/ha/năm nếu được đầu tư thâm canh bài bản.
RRIV 209 sinh trưởng vô cùng mạnh mẽ, cho phép mở miệng cạo sớm chỉ sau 6 năm kiến thiết cơ bản. Cây có độ mủ khô (DRC) ổn định trên 35 độ, thân mau lớn và tái sinh vỏ tốt. Về khả năng kháng bệnh, RRIV 209 kháng phấn trắng khá tốt, chỉ nhiễm nhẹ bệnh Corynespora nhưng lại mẫn cảm với bệnh nấm hồng và héo đen đầu lá trong giai đoạn cây non. Đây là lựa chọn hàng đầu cho các tiểu vùng A và B tại Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.
GT 1, PB 255, PB 260 – các giống truyền thống của những nông trường lớn
Trong lịch sử phát triển của ngành cao su Việt Nam, các dòng vô tính truyền thống đã đóng góp sản lượng khổng lồ. Tên gọi chuẩn xác theo tài liệu chính thức từ Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam là PB 255 và PB 260, chứ không phải PR 255 và PR 261 như một số tài liệu phổ biến đề cập.
Giống GT 1 (Gondang Tapen 1) có nguồn gốc từ Indonesia, du nhập mạnh vào Việt Nam từ năm 1981 và từng phủ xanh vùng Phú Riềng đỏ – nay thuộc xã Phú Riềng, thành phố Đồng Nai. GT 1 nổi tiếng với sự bền bỉ, thích ứng môi trường đa dạng, sức kháng gió và kháng bệnh rễ cực tốt.
Năng suất của GT 1 đạt từ 1,1 đến 1,4 tấn/ha/năm trong 10 năm đầu, chịu được cường độ cạo cao và đáp ứng tuyệt vời với thuốc kích thích mủ. Khả năng chịu lạnh của GT 1 và IAN 873 đã giúp các tỉnh miền núi phía Bắc như Tuyên Quang (gồm địa bàn Hà Giang cũ) và Lai Châu khôi phục diện tích sau các đợt rét đậm.
Giống PB 255 xuất xứ từ Malaysia (PB 5/51 x PB 32/36), được đưa vào trồng quy mô vừa từ năm 1991. Giống này cho năng suất mủ rất cao, đạt 1,6-2,0 tấn/ha/năm ở Đông Nam Bộ và 1,1-1,2 tấn/ha/năm ở Tây Nguyên, đồng thời sở hữu khả năng kháng gió khá nên rất phù hợp với vùng có gió mạnh.
Giống PB 260 (PB 5/51 x PB 49) từng chiếm diện tích cực kỳ lớn nhờ thân thẳng đẹp, tán cân đối. Năng suất PB 260 đạt 1,1-1,7 tấn/ha/năm, nhưng cây lại mang nhược điểm chí mạng là rất dễ bị loét sọc mặt cạo (Phytophthora palmivora), thối mốc và đông mủ sớm trên miệng cạo vào đầu mùa. Do rủi ro khô miệng cạo cao, PB 260 hiện không còn được xếp vào bảng khuyến cáo trồng mới.
Bảng so sánh năng suất, tuổi cạo, khả năng kháng bệnh và độ bền cây
Việc so sánh trực diện các thông số kỹ thuật của 5 dòng cao su phổ biến giúp các nhà đầu tư và người nông dân đưa ra quyết định trồng trọt chính xác nhất.
| Đặc điểm | RRIV 209 | RRIV 124 | PB 235 | PB 260 | GT 1 |
| Năng suất mủ | 2,5 – 3,0 tấn/ha/năm | 2,0 – 2,5 tấn/ha/năm | 1,6 – 1,9 tấn/ha/năm | 1,1 – 1,7 tấn/ha/năm | 1,1 – 1,4 tấn/ha/năm |
| Tuổi cạo (KTCB) | 6 – 7 năm | 5 – 6 năm | 6 – 7 năm | Trung bình (7 năm) | Chậm hơn, ổn định |
| Kháng phấn trắng | Khá tốt | Trung bình đến tốt | Mẫn cảm, nhiễm nặng | Nhiễm nhẹ đến trung bình | Tương đối dễ nhiễm |
| Bệnh Corynespora | Nhiễm nhẹ | Mẫn cảm, dễ rụng lá | Ít ghi nhận hại nặng | Nhiễm nhẹ | Ít nhiễm nặng |
| Bệnh loét sọc/Khô mủ | Dễ nhiễm nếu chăm kém | Dễ khô mủ nếu lạm dụng | Rất dễ khô miệng cạo | Rất mẫn cảm loét sọc | Ít khô mủ, chịu cạo cao |
| Độ bền cây/Gỗ | Trữ lượng gỗ rất cao | Trữ lượng gỗ cao | Gỗ khá, chịu gió bão kém | Dễ phản ứng, bướu vỏ | Bền bỉ, kháng gió khá |
Bảng so sánh cho thấy RRIV 209 vượt trội ở hầu hết tiêu chí kỹ thuật, đặc biệt là năng suất mủ và trữ lượng gỗ. Trong khi đó, các giống truyền thống như GT 1 vẫn duy trì vị thế tại những vùng có điều kiện khí hậu khắc nghiệt nhờ độ bền bỉ và khả năng thích ứng.
Khuyến nghị chọn giống cho vùng đất bazan tại thành phố Đồng Nai
Thành phố Đồng Nai (thành lập từ ngày 30/4/2026 trên cơ sở sáp nhập tỉnh Bình Phước và tỉnh Đồng Nai cũ) sở hữu nguồn tài nguyên đất đai vô cùng phong phú với 229.416 ha đất đỏ bazan, đất đen, đất đá bọt phì nhiêu. Quỹ đất bazan tập trung chủ yếu tại các xã, phường khu vực phía Bắc và Đông Bắc như phường Tân Phú, xã Định Quán, phường Xuân Lộc và phường Long Khánh.
Khu vực phía Nam và Đông Nam của thành phố – gồm phường Trị An (địa bàn huyện Vĩnh Cửu cũ), xã Thống Nhất và phường Long Thành – lại đặc trưng bởi 246.380 ha đất xám và nâu xám trên phù sa cổ. Thành phố Đồng Nai đã đặt ra mục tiêu chiến lược đến năm 2030 sẽ duy trì 236.090 ha diện tích cao su, đạt sản lượng 387.990 tấn.
Nhờ ứng dụng công nghệ chọn tạo giống, Tổng Công ty Cao su Đồng Nai đã nâng năng suất từ mức 1,5-1,7 tấn lên vượt mức 2 tấn/ha/năm. Đối với điều kiện thổ nhưỡng tối ưu tại thành phố Đồng Nai (tiểu vùng A và B), Tập đoàn VRG đặc biệt khuyến cáo ưu tiên trồng nhóm giống RRIV 209, RRIV 114, RRIV 1 và RRIV 106.
Các giống này sinh trưởng cực nhanh, cho sản lượng mủ ổn định từ 2,5-3 tấn/ha/năm và hoàn toàn tương thích với tầng canh tác dày của đất đỏ bazan. Quá trình nhân giống tại thành phố Đồng Nai được siết chặt với tiêu chuẩn gốc ghép phải đạt đường kính tối thiểu 12 mm, thời gian ươm bầu kéo dài khoảng 10 tháng.
Việc sử dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước trên diện tích 58.591 ha giúp các vườn cây giống luôn đạt tỷ lệ sống cao và kháng cự hiệu quả với hiện tượng khô hạn trong mùa khô.

Lưu ý quan trọng khi mua giống cao su để tránh hàng trôi nổi
Cây cao su là tài sản có vòng đời kinh tế dài lên tới 20-25 năm, do đó chất lượng giống quyết định trực tiếp tới khả năng thu hồi vốn và sinh lời. Nhiều hộ nông dân tại Tây Nguyên và Đông Nam Bộ đã gặp rủi ro lớn khi trồng nhầm các loại cây giống trôi nổi không rõ nguồn gốc, dẫn tới tỷ lệ chết cây cao, năng suất mủ kém và suy kiệt do bệnh dịch.
Để đạt hiệu quả tối ưu, người nông dân cần tuân thủ ba nhóm quy tắc khi mua giống. Thứ nhất là kiểm tra tiêu chuẩn sinh học. Cây tum trần phải có rễ cọc dài tối thiểu 40 cm, đường kính cách mặt đất 10 cm phải đạt từ 13 mm trở lên đối với trồng trực tiếp. Đối với bầu có tầng lá, mắt ghép phải liền sẹo, vỏ xanh tươi, không dập nát, bầu đất nguyên vẹn và lá trưởng thành khỏe mạnh.
Thứ hai là cập nhật giá cả thị trường năm 2025-2026. Với giống RRIV 209, tum trần có giá khoảng 15.000 đồng/cây, bầu hạt cắt ngọn 18.000 đồng/cây, bầu 1 tầng lá 23.000 đồng/cây và bầu 2 tầng lá 28.000 đồng/cây. Giống RRIV 103 (DK4) dao động từ 17.000 đến 32.000 đồng/cây. Nhìn chung, mức giá an toàn cho cây giống chuẩn dao động từ 19.000 đến 40.000 đồng/cây.
Thứ ba là lựa chọn cơ sở cung cấp hợp pháp. Người trồng tuyệt đối chỉ mua cây từ các đơn vị được cấp phép, có vườn nhân gỗ ghép đạt chuẩn. Một địa chỉ uy tín là Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Giống cao su – Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam (Quốc lộ 13, xã Lai Hưng, địa bàn huyện Bàu Bàng cũ, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh).
Ngoài ra, các cơ sở uy tín lâu năm như Cao su Giống Minh Tâm (thành phố Đồng Nai), Cao su Giống Tuấn Anh (địa bàn Bình Phước cũ, nay thuộc thành phố Đồng Nai), Cao su Giống Minh Sử (tỉnh Tây Ninh) hoặc Vườn ươm Đan Chi (tỉnh Gia Lai) đều cam kết chất lượng và truy xuất nguồn gốc rõ ràng.
Câu hỏi thường gặp về giống cao su cao sản 2026
1. Tuổi thọ khai thác kinh doanh của cây cao su kéo dài bao nhiêu năm?
Chu kỳ khai thác mủ kinh doanh của cây cao su thông thường kéo dài từ 20 đến 25 năm, bắt đầu sau khi cây trải qua giai đoạn kiến thiết cơ bản từ 5 đến 7 năm.
2. Mật độ trồng lý tưởng cho giống cao su RRIV 209 là bao nhiêu?
Mật độ trồng tối ưu cho RRIV 209 là từ 500 đến 550 cây/ha. Khoảng cách trồng phổ biến nhất là 6 m x 3 m (hàng cách hàng 6 m, cây cách cây 3 m) hoặc 7 m x 2,5 m, tùy điều kiện thổ nhưỡng và địa hình.
3. Tại sao Tập đoàn VRG không còn khuyến cáo trồng giống cao su PB 235?
Mặc dù cho mủ sớm, PB 235 đã bị loại khỏi cơ cấu khuyến cáo từ năm 2000 do mang nhiều nhược điểm nghiêm trọng. Cây có khả năng chống chịu bão gió kém, rất dễ gãy cành, cực kỳ mẫn cảm với bệnh phấn trắng và rất dễ bị khô miệng cạo nếu lạm dụng thuốc kích thích.
4. Bệnh hại nào nguy hiểm nhất đối với giống cao su lai hoa RRIV 124?
Giống RRIV 124 kháng phấn trắng khá tốt, nhưng lại rất mẫn cảm và dễ bị thiệt hại bởi bệnh rụng lá Corynespora. Bệnh này đặc biệt bùng phát mạnh trong những tháng mùa mưa hoặc tại các vùng có áp lực mầm bệnh cao.
5. Vùng đất đỏ bazan tại thành phố Đồng Nai nên ưu tiên trồng những giống cao su nào?
Theo cơ cấu giống giai đoạn 2022-2026, vùng đất đỏ bazan tại thành phố Đồng Nai (thuộc tiểu vùng A và B) được khuyến cáo ưu tiên trồng các giống RRIV 209, RRIV 114, RRIV 1 và RRIV 106. Đây là các giống sinh trưởng khỏe, kháng bệnh tốt và cho sản lượng đạt trên 2,5-3 tấn/ha/năm.
Ngọc Duyên
