Đà Nẵng – Anh Lê Nhất Vũ và vợ Võ Thị Ngọc Thư tận dụng xơ mướp già để làm hơn 20 sản phẩm gia dụng, từng bước đưa hàng đến nhiều thị trường nước ngoài.
Khoảng năm 2018, hai vợ chồng bắt đầu liên kết với nông dân, tìm cách khai thác xơ mướp ngọt thay vì để những quả già bị bỏ đi. Khi ấy, anh Vũ là kỹ sư, còn chị Thư làm giảng viên tại một trường cao đẳng.
Cùng xuất thân từ gia đình nông dân, họ muốn tìm một hướng kinh doanh gắn với nông nghiệp và tạo thêm đầu ra cho người trồng. “Chúng tôi muốn làm sản phẩm thân thiện với môi trường, có yếu tố Việt Nam để đưa ra nước ngoài, đồng thời tạo thêm đầu ra cho người nông dân”, anh Vũ chia sẻ.

Ban đầu, nguồn xơ thu được không ổn định do giống mướp thử nghiệm cho lượng xơ ít và chất lượng không đồng đều. Hai vợ chồng vừa thu mua mướp già, vừa thử nghiệm giống mới cho đến khi tìm được loại có lượng xơ lớn.
Quả mướp được để già khoảng 4 tháng trước khi thu hoạch, sau đó trải qua các công đoạn bóc vỏ, giặt, phơi khô, xẻ lấy hạt, ép, cắt và may thành sản phẩm. Năm 2022, chị Thư nghỉ việc để cùng chồng tập trung phát triển cơ sở.
Theo chị Thư, xơ mướp có độ dai, tương đối mềm, nhanh khô và có khả năng hút dầu mỡ nên có thể sử dụng trong nhiều vật dụng nhà bếp, nhà tắm.
Từ nguồn nguyên liệu từng ít được khai thác, hai vợ chồng phát triển hơn 20 mẫu sản phẩm, chia thành 4 nhóm gồm nhà bếp, nhà tắm, thời trang và trang trí. Giá bán mỗi sản phẩm dao động từ 30.000 đến 500.000 đồng.
Từ đơn hàng nhỏ đến vùng nguyên liệu
Định hướng ban đầu của hai vợ chồng là tìm thị trường nước ngoài trước, sau đó mới mở rộng trở lại trong nước. Khách hàng được tiếp cận qua các hội nhóm nông nghiệp quốc tế, mạng xã hội và chương trình xúc tiến thương mại.
Đơn hàng đầu tiên sang Mỹ chỉ khoảng 30 USD. Hai vợ chồng tự tìm cách gửi hàng và giao hàng đến tay khách trọn vẹn nhất, rồi từng bước tiếp cận thêm khách hàng ở các thị trường khác.
Đến nay, sản phẩm xơ mướp đã được xuất sang Mỹ, Hàn Quốc, Australia và Canada. Đơn hàng lớn nhất từng xuất sang Hàn Quốc có giá trị khoảng 2.000 USD; trong nước, sản phẩm được phân phối cho một số khách sạn tại Đà Nẵng và các gian hàng quà tặng ở điểm du lịch.
Khách hàng quốc tế đặt yêu cầu cao về chất lượng, độ hoàn thiện và đóng gói. Mỗi đơn hàng vì thế cũng giúp cơ sở điều chỉnh sản phẩm, từ chất lượng xơ đến thiết kế.
Để chủ động nguyên liệu, hai vợ chồng liên kết với nông dân ở nhiều địa phương, hỗ trợ giống, kỹ thuật và tổ chức thu mua mướp già. Hiện khoảng 50 hộ tại Đà Nẵng, Đắk Lắk, Yên Bái, Đồng Nai và một số địa phương khác tham gia, với tổng diện tích hơn 20ha.

Mướp khô được thu mua theo kích thước và chất lượng, giá khoảng 2.000-12.000 đồng/quả. Theo anh Vũ, mô hình giúp tận dụng những quả mướp già, trong khi người dân vẫn có thể bán mướp non làm thực phẩm.
“Tuy nhiên, phần lớn người dân liên kết với chúng tôi chọn không bán mướp non mà bán mướp già để có thu nhập ổn định. Chúng tôi muốn mở rộng vùng trồng, cùng bà con tạo ra sản phẩm và chia sẻ lợi nhuận. Khi đầu ra ổn định, người dân cũng yên tâm hơn với vùng nguyên liệu”, anh Vũ chia sẻ.
Cơ sở hiện tạo việc làm thường xuyên cho 10 lao động, với thu nhập khoảng 8-12 triệu đồng/người/tháng. Khi có đơn hàng lớn, doanh nghiệp thuê thêm lao động địa phương làm thời vụ.
Thời gian tới, vợ chồng anh Vũ dự định mở rộng diện tích liên kết, tăng số hộ tham gia và phát triển thêm sản phẩm. Mục tiêu là xây dựng vùng nguyên liệu đủ lớn, đáp ứng yêu cầu về chất lượng và sản lượng của các đơn hàng xuất khẩu.
Thanh Hy (tổng hợp)