Kế hoạch phát triển kinh tế Đồng Nai 2030: GRDP tăng hai con số

Đồng Nai — Quy hoạch tỉnh xác lập ba trụ cột đột phá: thu hút FDI công nghệ cao, hiện đại hóa logistics quanh Sân bay Long Thành và tái cơ cấu không gian phát triển bốn lớp.

Tổng nhu cầu vốn đầu tư lũy kế đến năm 2030 ước khoảng 1.003.700 tỷ đồng, tương đương 41 tỷ USD, theo Kế hoạch thực hiện Quy hoạch tỉnh Đồng Nai do Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà ký ban hành. Cơ cấu kinh tế đến năm 2030 hướng tới công nghiệp – xây dựng chiếm 59%, dịch vụ 29%, nông – lâm – thủy sản 6% và thuế sản phẩm 6%. Định hướng này nhằm đưa Đồng Nai trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đi đầu trong kinh tế hàng không, công nghiệp công nghệ cao và logistics.

Quyết định số 586/QĐ-TTg ngày 03/7/2024 phê duyệt Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp đó, Quyết định số 1015/QĐ-TTg ngày 20/9/2024 ban hành Kế hoạch thực hiện. Theo Quy hoạch, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân thời kỳ 2021–2030 đặt ở mức khoảng 10%/năm. Một số kịch bản nêu khoảng dao động 10–12%/năm, trong khi văn bản Quy hoạch gốc đề cập kịch bản kỳ vọng 10,0%/năm. Công nghiệp – xây dựng chiếm 59% GRDP, trong đó riêng công nghiệp chế biến chế tạo chiếm 50% GRDP.

Ba nhóm sản phẩm mũi nhọn dẫn dắt dòng vốn FDI công nghệ cao

Quy hoạch ưu tiên dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các dự án công nghiệp hiện đại, giá trị gia tăng cao, ít thâm dụng lao động, tài nguyên và thân thiện môi trường. Ba nhóm sản phẩm mũi nhọn được lựa chọn gồm công nghiệp hàng không; công nghiệp bán dẫn, sản xuất chip và trí tuệ nhân tạo; thiết bị tự động hóa và thiết bị công nghệ thông tin.

Đi cùng định hướng này là hai dự án hạt nhân tại xã Bình An. Khu công nghệ số tập trung Long Thành quy mô khoảng 119 ha trải trên hai xã Bình An và An Phước, tập trung Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo, blockchain, điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu và bán dẫn. Khu đổi mới sáng tạo Đồng Nai quy mô khoảng 300 ha cũng đặt tại xã Bình An, đóng vai trò vườn ươm hệ sinh thái khoa học công nghệ.

KCN Lộc An – Bình Sơn (Long Thành) – vị trí chiến lược gần sân bay, hỗ trợ thu hút FDI công nghệ cao với ba nhóm sản phẩm mũi nhọn: công nghiệp hàng không, bán dẫn & AI, thiết bị tự động hóa. (Ảnh: Đồng Nai Mới)

Ông Lê Trường Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, nhấn mạnh: “Các dự án Khu công nghệ số tập trung Long Thành, Khu đổi mới sáng tạo Đồng Nai… có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trên địa bàn tỉnh.”

Tuy vậy, định hướng FDI công nghệ cao đang vấp phải điểm nghẽn lớn về quỹ đất sạch. Phó trưởng Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế tỉnh Đồng Nai Phạm Việt Phương cho hay: “Do quy trình lập quy hoạch cần đảm bảo thời gian, nên trong ngắn hạn, diện tích đất công nghiệp cho thuê tại các KCN cũ rất hạn chế. Điều này không đủ để thu hút các dự án quy mô lớn.”

Ba khu công nghiệp trọng điểm đang chạy đua giải phóng mặt bằng. Khu công nghiệp Bàu Cạn – Tân Hiệp giai đoạn 1 quy mô 1.000 ha trải trên xã Long Phước (116,8 ha) và xã Phước Thái (883,2 ha). Khu công nghiệp Xuân Quế – Sông Nhạn tổng diện tích 3.595 ha, trong đó giai đoạn trước năm 2030 đầu tư 1.819,89 ha. Khu công nghiệp Long Đức 3 đã hoàn thành 100% phương án bồi thường và thu hồi đất. Cả ba dự án đều phải bàn giao tạm 1–2 ha mặt bằng trước ngày 15/11/2025 để chuẩn bị khởi công.

Hạ tầng logistics đa tầng xoay quanh Sân bay Long Thành

Trục logistics thứ hai trong chiến lược tăng trưởng được thiết kế xoay quanh Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Quy hoạch tỉnh xác lập hệ thống trung tâm logistics thông minh, đồng bộ với lõi là sân bay, kèm ba trung tâm logistics cấp vùng cạnh sân bay và cảng biển.

Tỉnh đang nghiên cứu Đề án Khu thương mại tự do quy mô khoảng 8.200 ha nhằm tận dụng lợi thế Sân bay Long Thành và Cảng Phước An. Khu phức hợp này dự kiến gồm bốn phân khu: sản xuất công nghiệp công nghệ cao; logistics; dịch vụ tài chính, thương mại; và đổi mới sáng tạo. Trong danh mục dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư năm 2026, ba dự án logistics quy mô lớn được công bố gồm Tổng kho trung chuyển miền Đông 620 ha tại xã Trảng Bom và xã An Viễn, Trung tâm Logistics phía Nam Cảng hàng không quốc tế Long Thành 100 ha và Trung tâm Logistics phía Đông Bắc Cảng hàng không quốc tế Long Thành 100 ha.

Sân bay Long Thành đang trong giai đoạn hoàn thiện, được định vị làm tâm điểm phát triển kinh tế hàng không và logistics của Đồng Nai. (Ảnh: Đồng Nai Mới)

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định tầm vóc của trục phát triển này: “Việc xây dựng thành phố sân bay, khu vực phát triển quanh sân bay phải được tính toán đầu tư đồng bộ, phải đặt trong tổng thể để phát huy hiệu quả. Phải quy hoạch lấy Sân bay Long Thành làm trung tâm, tâm điểm, xung quanh sân bay các khu vực phải phát triển công nghiệp công nghệ cao, khu du lịch, khu đô thị… Tất cả phải đồng bộ mới mang lại hiệu quả.”

Tổ chức không gian phát triển được thiết kế theo bốn lớp gồm mặt đất, trên cao, ngầm và không gian số. Phương án liên kết không gian dựa trên 6 hành lang kinh tế và 3 vành đai. Vành đai chiến lược kết nối Trung tâm Tài chính Thủ Thiêm – Sân bay Long Thành – Cảng Cái Mép Hạ tạo thành trục logistics xuyên suốt. Hai khu vực được chọn làm động lực phát triển mới đến năm 2030 là đô thị sân bay Long Thành và hành lang sông Đồng Nai. Cụm Nhơn Trạch – Long Thành và phụ cận hình thành mô hình thành phố kép, đảm nhận chức năng trung tâm kinh tế tri thức sáng tạo, dịch vụ công nghiệp, logistics, công nghiệp sạch và công nghiệp đa ngành.

Chuyển hóa khu công nghiệp sang mô hình xanh, sinh thái

Áp lực thiếu đất sạch cùng yêu cầu chất lượng FDI buộc Đồng Nai phải tái cấu trúc mô hình khu công nghiệp truyền thống. UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 76/KH-UBND về chuyển hóa khu công nghiệp, đồng thời báo cáo phê duyệt Đề án thành lập Khu công nghệ cao. Mục tiêu đến năm 2030 toàn tỉnh có 48 khu công nghiệp đi vào hoạt động, tổng diện tích đất khu công nghiệp đạt 21.819 ha, vượt 3.276 ha so với phân khai ban đầu theo Quyết định 326. Nhu cầu sử dụng đất công nghiệp đến năm 2030 dự kiến 21.800 ha.

Lộ trình xanh hóa được chia hai giai đoạn. Giai đoạn 2026–2030, tỉnh đặt mục tiêu có tối thiểu 2 khu công nghiệp được chứng nhận khu công nghiệp sinh thái, ít nhất 10% doanh nghiệp trong các khu công nghiệp áp dụng giải pháp sản xuất sạch hơn và giảm phát thải, 90% khu công nghiệp được tiếp cận giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm. Giai đoạn 2031–2050 định hướng đạt 100% sử dụng năng lượng tái tạo, các khu công nghiệp đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Bên trong nhà máy Bosch Việt Nam – điển hình sản xuất công nghiệp hỗ trợ tại Đồng Nai. Tỉnh đang chuyển hóa khu công nghiệp sang mô hình xanh, sinh thái, hướng tới phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. (Ảnh: Chụp màn hình Bosch Việt Nam)

Hiệu quả mô hình mới được kỳ vọng phản ánh trực tiếp vào dòng đóng góp ngân sách từ khối FDI. Theo Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai, tỷ trọng đóng góp của khối FDI trong cơ cấu thu ngân sách giai đoạn 2019–2023 dao động từ 12,02% đến 13,08%. Năm 2021 nộp 14.977,5 tỷ đồng, năm 2022 đạt 13.888,2 tỷ đồng, sơ bộ năm 2023 đạt 13.044,7 tỷ đồng.

Kim ngạch xuất khẩu từng chịu cú trượt năm 2023 khi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 15.880,6 triệu USD trên tổng 21.624 triệu USD toàn tỉnh, giảm 13,1% so với cùng kỳ. Nguyên nhân được Cục Thống kê chỉ rõ là suy thoái thế giới, lạm phát, sức mua tại Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc giảm cùng tác động gãy chuỗi cung ứng. Đà phục hồi tái lập từ năm 2024 và bứt tốc trong 9 tháng năm 2025: tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 25,92 tỷ USD, tăng 17,28% so với cùng kỳ năm trước, xuất siêu gần 8 tỷ USD; Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 14,03%.

Lộ trình hơn một triệu tỷ đồng để lên thành phố trực thuộc Trung ương

Theo Kế hoạch thực hiện Quy hoạch tại Quyết định 1015/QĐ-TTg, nhu cầu vốn đầu tư lũy kế đến năm 2030 theo giá hiện hành khoảng 1.003.700 tỷ đồng, tương đương 41 tỷ USD. Trong đó, giai đoạn 2021–2025 cần khoảng 478.200 tỷ đồng, giai đoạn 2026–2030 cần khoảng 525.500 tỷ đồng. Tỷ lệ vốn đầu tư công đạt khoảng 20%, vốn ngoài ngân sách 80% (vốn ngoài nhà nước 33,6% và FDI 46,4%). Một kịch bản kỳ vọng trong văn bản Quy hoạch còn nâng tổng nhu cầu lên 2.344.000 tỷ đồng, tương đương 99 tỷ USD.

Riêng giai đoạn 2026–2030, theo Kế hoạch số 82-KH/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai, tỉnh huy động khoảng 277.379 tỷ đồng. Trong đó, vốn đầu tư công 100.642 tỷ đồng, vốn từ ngân sách trung ương hỗ trợ 25.603 tỷ đồng, vốn nước ngoài 1.000 tỷ đồng, vốn doanh nghiệp đầu tư theo phương thức công tư (PPP) khoảng 136.544 tỷ đồng và vốn xã hội hóa 13.590 tỷ đồng. Nguồn lực này phân bổ chủ yếu cho hạ tầng giao thông 229.853 tỷ đồng, hạ tầng thủy lợi và ứng phó biến đổi khí hậu 13.913 tỷ đồng, hạ tầng đô thị khoảng 13.792 tỷ đồng.

Đồng Nai đã đạt 7/7 tiêu chuẩn và 5/5 điều kiện trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Quy mô dân số 4.491.408 người, vượt xa mức 2.500.000 người tối thiểu. Diện tích tự nhiên 12.737,18 km², gấp hơn 5 lần ngưỡng 2.500 km². Tỷ lệ phường trên tổng số đơn vị hành chính cấp xã đạt 34,73% (33 phường trên tổng 95 đơn vị), vượt mức 30% tối thiểu. Tỷ lệ đô thị hóa hiện đạt 54,1% với dân số đô thị 2.429.835 người, một số nguồn ghi nhận gần 57%, đều vượt ngưỡng 45%.

Về quy mô kinh tế, GRDP năm 2025 đạt 677.932 tỷ đồng, xếp thứ 4 cả nước. Thu ngân sách đạt 102.962 tỷ đồng. GRDP bình quân đầu người đạt 152,8 triệu đồng. Tỷ trọng công nghiệp – xây dựng – dịch vụ chiếm hơn 81% cơ cấu kinh tế. Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa tăng lên khoảng 70–80% và 50% đơn vị hành chính cấp xã trở thành đô thị.

Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Võ Tấn Đức nêu yêu cầu: thời gian không còn nhiều, các địa phương phải đảm bảo bàn giao mặt bằng các khu công nghiệp trọng điểm trước ngày 19/12/2025. Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai Tôn Ngọc Hạnh đề nghị rà soát toàn diện từng dự án đầu tư công và kế hoạch trung hạn 2026–2030 trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tránh tình trạng tính toán cơ học, bảo đảm sử dụng hiệu quả và tiết kiệm nguồn lực.

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai xác định rõ định hướng cho cả nhiệm kỳ: “Tập trung đầu tư các công trình, dự án hạ tầng giao thông then chốt, có tính lan tỏa cao, nhất là hạ tầng giao thông kết nối vùng và hạ tầng giao thông đô thị; đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn về giao thông đô thị, logistics, chuyển đổi số và môi trường đầu tư; qua đó mở rộng không gian phát triển đô thị – công nghiệp dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững.”

Thục Châu