Dấu tích cư trú của người tiền sử ở Đồng Nai từ 600.000 năm trước

Những công cụ đá ghè hai mặt được phát hiện tại Xuân Lộc cho thấy con người đã xuất hiện trên vùng đất Đồng Nai khoảng 600.000-700.000 năm trước, mở đầu cho quá trình cư trú kéo dài qua nhiều thời kỳ.

Theo các nghiên cứu khảo cổ, những cư dân đầu tiên trên vùng đất Đồng Nai xuất hiện khoảng 600.000-700.000 năm trước Công nguyên, để lại dấu tích sớm nhất là các công cụ đá ghè đẽo hai mặt giống rìu tay thuộc thời kỳ đồ đá cũ. Tại Xuân Lộc, nhà địa chất – khảo cổ người Pháp E. Saurin công bố nghiên cứu về những công cụ này vào năm 1971, trong đó mô tả các hiện vật ghè hai mặt và hình tam giác đặc trưng cho kỹ thuật chế tác thời kỳ đồ đá cũ.

Phát hiện ở Xuân Lộc tiếp tục được các nhà khảo cổ quốc tế quan tâm trong nhiều thập kỷ sau đó. Nhóm nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga (Siberia) vẫn trích dẫn những hiện vật này khi nghiên cứu nguồn gốc công nghiệp ghè đá hai mặt ở Đông Á và Đông Nam Á.

Cũng trong thời kỳ đồ đá cũ, trên địa bàn tỉnh Bình Phước trước đây, các nhà khảo cổ phát hiện thêm một số di tích có niên đại khoảng 100.000-150.000 năm trước. Cư dân khi ấy chủ yếu sống bằng săn bắt, hái lượm và di chuyển theo nguồn thức ăn tự nhiên, chưa định cư cố định.

Bước sang thời kỳ đồ đá mới, đời sống cư dân có những thay đổi đáng kể khi con người bắt đầu mở rộng địa bàn và định cư lâu dài tại một số khu vực. Những dấu tích sớm của giai đoạn này được ghi nhận qua các cuộc khai quật của người Pháp tại đảo Cù Lao Rùa trên sông Đồng Nai, gần Biên Hòa.

Từ săn bắt, hái lượm đến định cư và sản xuất

Cuộc khai quật tại Cù Lao Rùa do D. Grossin thực hiện năm 1902, sau đó A. Jorrin tiếp tục vào năm 1910. Đến năm 1970, nhà nghiên cứu H. Fontaine hệ thống hóa các phát hiện tại đây, ghi nhận 383 hiện vật đá với nhiều kích thước và kiểu dáng, tạo nguồn tư liệu quan trọng để tìm hiểu thời kỳ đồ đá mới sơ khai ở khu vực Biên Hòa.

Trong giai đoạn này, cư dân Đồng Nai bắt đầu trồng lúa, cây ăn quả, cây lấy củ và chăn nuôi nhiều loài động vật. Nghề thủ công cũng phát triển, nổi bật là chế tác đá và làm gốm, để lại nhiều dấu tích trong các di chỉ khảo cổ được khai quật về sau.

Khoảng hơn 4.000 năm trước, nền văn hóa Đồng Nai hình thành, mở ra giai đoạn phát triển nổi bật của cư dân tiền sử tại vùng đất này. Các nghiên cứu khảo cổ cho rằng canh tác lúa nước có thể đã bắt đầu từ thời điểm đó, gắn với những di chỉ như Bình Đa, Cù Lao Rùa và Mỹ Lộc, nơi tìm thấy xương động vật thuần hóa cùng công cụ lao động bằng đá và gốm.

Tại khu vực thượng nguồn sông Đồng Nai và sông Bé, các điểm khai thác, chế tác đá như Suối Linh, Hang Ông Đại và Hang Ông Đụng cũng được xác định. Những phát hiện này cho thấy cư dân cổ có thể đã hình thành mạng lưới trao đổi nguyên liệu đá với các cộng đồng lân cận, thay vì chỉ khai thác tại chỗ.

Văn hóa Đồng Nai phát triển song song với những nền văn hóa tiền sử khác như Sơn Vi, Phùng Nguyên ở miền Bắc. Bức tranh đó cho thấy sự đa dạng về văn hóa và kỹ thuật của cư dân trên lãnh thổ Việt Nam trước khi xã hội bước vào thời đại kim khí với sự xuất hiện của kỹ thuật luyện đồng bản địa.

Từ những công cụ đá được ghè đẽo cách đây hàng trăm nghìn năm đến các dấu tích sản xuất, trao đổi của cư dân văn hóa Đồng Nai, mỗi hiện vật đều góp thêm một mảnh ghép cho lịch sử vùng đất này. Dòng sông Đồng Nai vẫn chảy qua nhiều thế hệ, còn những dấu tích khảo cổ giúp nối quá khứ rất xa với hành trình cư trú của con người đến ngày nay.

Bảo An (tổng hợp)