Biên Hòa — Kể từ ngày 1/7/2025, tỉnh Đồng Nai chính thức vận hành sau hợp nhất với Bình Phước, vươn lên thành trung tâm kinh tế lớn thứ tư Việt Nam với tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) dự kiến đạt khoảng 676.733 tỷ đồng, tương đương 26 tỷ USD. Hệ thống hạ tầng sân bay quốc tế, cảng biển nước sâu và cửa khẩu biên giới đang được khai thác đồng bộ để định hình bức tranh kinh tế tích hợp theo mô hình đa trung tâm hiện đại.
Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội ban hành ngày 12/6/2025, tỉnh Đồng Nai mới được hình thành từ việc hợp nhất toàn bộ địa giới hành chính của Đồng Nai cũ (5.907,2 km²) và Bình Phước (6.829,98 km²), tạo ra một đơn vị hành chính rộng 12.737,18 km² với dân số gần 4,5 triệu người. Trung tâm hành chính của tỉnh đặt tại thành phố Biên Hòa, đô thị công nghiệp lớn nhất vùng Đông Nam Bộ sau TP. Hồ Chí Minh. Sự sáp nhập này không chỉ tái lập bản đồ hành chính mà còn mở ra không gian phát triển kinh tế theo chiều rộng lẫn chiều sâu, giải quyết bài toán phân tán nguồn lực vốn tồn tại từ trước khi hai địa phương còn hoạt động riêng lẻ.
Quy mô diện tích, dân số và cơ cấu kinh tế tỉnh Đồng Nai sau sáp nhập
Với diện tích 12.737,18 km², tỉnh Đồng Nai đứng thứ 9 cả nước về quy mô lãnh thổ và thứ 5 về dân số. Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh đạt khoảng 352,6 người/km², nhưng có sự phân hóa rõ rệt theo địa lý: cao nhất tại thành phố Biên Hòa với 4.245 người/km², thấp dần về các khu vực miền núi phía Bắc như Tân Phú hay Bù Gia Mập, dao động 200-300 người/km².
Cơ cấu kinh tế của tỉnh sau hợp nhất được định hình theo hướng công nghiệp hóa hiện đại. Công nghiệp – xây dựng giữ vai trò chủ đạo, chiếm khoảng 56,1% GRDP. Thương mại – dịch vụ đóng góp gần 25,9%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm gần 11,8%; phần còn lại là thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm, đạt 6,45%.
Điểm cộng lớn nhất mà việc sáp nhập mang lại là sự bổ trợ theo chiều dọc chuỗi giá trị. Đồng Nai cũ sở hữu thế mạnh công nghiệp chế biến, chế tạo và hệ thống logistics phát triển; Bình Phước đóng góp vùng nguyên liệu nông nghiệp quy mô lớn: điều, cao su, hồ tiêu, cùng tiềm năng khoáng sản chưa được khai thác hiệu quả. Sự kết hợp này tạo ra chuỗi giá trị khép kín từ khâu nguyên liệu thô đến chế biến sâu và xuất khẩu, giúp tỉnh chủ động hơn trong ứng phó biến động chuỗi cung ứng toàn cầu.
Lũy kế đến năm 2025, tỉnh đã thu hút hơn 2.267 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký 44,3 tỷ USD từ 51 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việc mở rộng quỹ đất sạch tại khu vực phía Bắc tháo gỡ được điểm nghẽn không gian sản xuất vốn đã chật hẹp ở các khu công nghiệp Biên Hòa, đồng thời giúp thu hút dòng vốn vào các phân ngành kỹ thuật cao hơn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn tỉnh đạt khoảng 70%, tạo ra nguồn nhân lực đủ năng lực đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư chiến lược trong lĩnh vực bán dẫn và tự động hóa.
Bộ máy lãnh đạo và quản lý nhà nước tỉnh Đồng Nai mới
Công tác kiện toàn nhân sự lãnh đạo được triển khai song song với quá trình sáp nhập hành chính. Bộ Chính trị chỉ định đồng chí Vũ Hồng Văn giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai, đồng thời đảm nhiệm vai trò Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh sau hợp nhất gồm 66 ủy viên: 33 từ Đồng Nai cũ, 32 từ Bình Phước cũ và 1 ủy viên được bổ nhiệm từ Chánh án TAND tỉnh Bình Dương, đảm bảo tính cân bằng vùng miền trong cơ cấu lãnh đạo.
Về phía hành pháp, Thủ tướng Chính phủ chỉ định đồng chí Võ Tấn Đức giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai mới; đồng chí Tôn Ngọc Hạnh đảm nhiệm chức Chủ tịch HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2021-2026. Đồng chí Huỳnh Thị Hằng giữ chức Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh. Đội ngũ lãnh đạo này chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng và Quốc hội vào thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội địa phương, đồng thời điều phối quá trình chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững.
Tinh gọn bộ máy là thành quả thực chất nhất có thể đo đếm ngay sau sáp nhập. Số lượng cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh được duy trì ở mức 14 tổ chức; phòng chuyên môn thuộc sở giảm từ 173 đơn vị xuống còn 88 phòng, tương ứng tỷ lệ giảm 49,1% so với trước khi sáp nhập. Các đơn vị sự nghiệp công lập cũng giảm khoảng 16,8%. Ban Quản lý các Khu công nghiệp của hai tỉnh cũ được hợp nhất thành một đầu mối duy nhất, giúp nhà đầu tư và doanh nghiệp tiếp cận thủ tục nhanh hơn, minh bạch hơn.
Tại cấp liên vùng, Hội đồng Điều phối vùng Đông Nam Bộ do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch đóng vai trò điều phối các dự án hạ tầng giao thông liên tỉnh như vành đai 3, vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh và các tuyến cao tốc chiến lược. Tổ Tư vấn kinh tế – xã hội tỉnh Đồng Nai với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành như TS. Trần Du Lịch, TS. Ngô Viết Nam Sơn thực hiện vai trò phản biện khoa học và góp ý hoàn thiện Quy hoạch tỉnh, đảm bảo tính dài hạn trong các quyết sách phát triển.

Lộ trình phát triển kinh tế Đồng Nai theo ba giai đoạn đến năm 2050
Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030 với tầm nhìn đến năm 2050 phân chia tiến trình phát triển kinh tế thành ba giai đoạn chiến lược có mục tiêu và trọng tâm riêng biệt.
Năm 2025 là giai đoạn chuyển tiếp và ổn định, tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy, bàn giao tài sản công và thống nhất các quy định pháp lý, chính sách thuế, ưu đãi đầu tư giữa hai khu vực cũ. Trọng tâm là rà soát các quy hoạch phân khu, xử lý dự án chậm triển khai và chuẩn bị điều kiện đón dòng vốn đầu tư mới vào quỹ đất phía Bắc.
Giai đoạn 2026-2030 được xem là bước bứt phá quyết định. Sự kiện trọng tâm là năm 2026 khi Cảng hàng không quốc tế Long Thành chính thức vận hành giai đoạn 1, đây là cú hích trực tiếp cho ngành logistics, dịch vụ hàng không và thương mại quốc tế. Tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 11-12%/năm trong giai đoạn này. Các tuyến cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, Bến Lức – Long Thành, Dầu Giây – Tân Phú cùng đường vành đai 3, vành đai 4 dự kiến hoàn thành, kết nối thông suốt không gian kinh tế từ biên giới phía Bắc xuống cảng nước sâu Phước An ở phía Nam. Đến năm 2030, Đồng Nai phấn đấu cơ bản đáp ứng các tiêu chuẩn của thành phố trực thuộc Trung ương.
Tầm nhìn đến năm 2050 hướng đến một Đồng Nai dẫn dắt các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn và trí tuệ nhân tạo. Giai đoạn này, tỉnh hoàn thiện hệ sinh thái kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero). Đây cũng là thời kỳ mô hình đô thị đa trung tâm được hoàn chỉnh về mặt không gian và hệ thống hạ tầng số, hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Mô hình kinh tế đa trung tâm và 5 vùng động lực của Đồng Nai
Mô hình phát triển đa trung tâm được xây dựng theo chiến lược “phân vùng chức năng – kết nối đa cực”, nhằm phá bỏ tư duy phát triển hướng tâm đơn nhất vốn đặt toàn bộ trọng lực tăng trưởng vào lõi đô thị Biên Hòa. Toàn bộ không gian 12.737,18 km² được xác lập 5 vùng kinh tế – xã hội đặc thù với chức năng và lợi thế so sánh riêng biệt.
Vùng Tây Nam (Long Thành – Nhơn Trạch) đóng vai trò hạt nhân đổi mới sáng tạo, tập trung logistics hàng không, dịch vụ tài chính, đô thị thông minh và công nghiệp bán dẫn gắn với Khu thương mại tự do (FTZ) Long Thành. Vùng Tây Bắc lấy Chơn Thành và Đồng Xoài làm cực tăng trưởng, phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm sản, công nghiệp hỗ trợ và logistics xuyên biên giới kết nối Campuchia và Tây Nguyên. Vùng Đông Bắc, bao gồm Bù Gia Mập và Phú Riềng, trở thành vùng nguyên liệu vệ tinh và nông nghiệp công nghệ cao,
cung ứng đầu vào cho chuỗi chế biến của toàn tỉnh. Vùng Thiên nhiên và Giải trí sinh thái khai thác hồ Trị An, Vườn quốc gia Cát Tiên và sông Đồng Nai để hình thành các tổ hợp du lịch nghỉ dưỡng, du lịch MICE và kinh tế xanh. Vùng Đông Nam lấy đô thị Long Khánh làm hạt nhân, kết hợp nông nghiệp công nghệ cao với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và dịch vụ du lịch trải nghiệm.
Ba giải pháp đột phá được xác định để vận hành cấu trúc 5 vùng này. Về hạ tầng giao thông, tỉnh xây dựng 6 hành lang kết nối, trong đó có hành lang Bắc – Nam và hành lang ven sông Đồng Nai, cùng 3 tuyến vành đai, ưu tiên phát triển đô thị theo mô hình TOD (transit-oriented development) quanh các nhà ga đường sắt và metro. Về không gian số, hạ tầng dữ liệu và nền tảng dùng chung giúp quản trị đô thị thông minh đồng bộ, xóa bỏ khoảng cách dịch vụ công giữa các cực tăng trưởng cũ và mới. Về thể chế, tỉnh đề xuất Quốc hội ban hành các cơ chế thí điểm cho Khu thương mại tự do Long Thành, xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo và ban hành chính sách thu hút nhà đầu tư chiến lược vào phân ngành chip bán dẫn và robot công nghệ cao.
Theo Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021-2030 tầm nhìn 2050, đến cuối thập kỷ này, tỷ trọng công nghiệp công nghệ cao trong toàn ngành công nghiệp của tỉnh phấn đấu đạt mức vượt trội so với giai đoạn trước sáp nhập, trong khi hệ thống đô thị đa trung tâm sẽ phân bổ đồng đều hơn cơ hội việc làm và an sinh xã hội trên toàn bộ diện tích lãnh thổ 12.737,18 km².
Sen Vàng
