Đồng Nai – Ông Phạm Ngọc Thuận,Phó Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Becamex, và ông Dương Văn Hiếu, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Tp.Đồng Nai, nêu các đề xuất về khai thác hành lang Chơn Thành – Hoa Lư và phát triển logistics số nhằm nâng cao hiệu quả kết nối, vận hành chuỗi cung ứng.
Các ý kiến tập trung vào tiềm năng mở rộng kết nối liên vùng của hành lang Chơn Thành – Hoa Lư, tạo cầu nối giữa Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Campuchia; đồng thời phát triển hệ sinh thái logistics số, kết nối đồng bộ cảng hàng không, cảng biển và các khu công nghiệp tại Đồng Nai. Đây là những nội dung được chia sẻ bên lề Diễn đàn Cấp cao DigiFest Đồng Nai 2026.
Theo ông Phạm Ngọc Thuận, tiềm năng của hành lang Chơn Thành – Hoa Lư cần được khai thác thông qua đầu tư giao thông đồng bộ, kết hợp phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ và đổi mới sáng tạo. Khi các tuyến vận tải được kết nối hiệu quả, hoạt động lưu thông hàng hóa, lao động và dịch vụ giữa các khu vực sẽ có thêm điều kiện thuận lợi.

Quốc lộ 13 hiện là một trong những trục giao thông quan trọng của khu vực. Cùng với đó, các tuyến cao tốc Tp.HCM – Thủ Dầu Một – Chơn Thành và Gia Nghĩa – Chơn Thành, khi được hoàn thiện và kết nối, sẽ tăng cường liên kết giữa phía Bắc Tp.HCM với Tây Nguyên.
Ở hướng biên giới, cửa khẩu quốc tế Hoa Lư mở thêm khả năng giao thương với Campuchia, tạo cơ hội phát triển xuất nhập khẩu và logistics xuyên biên giới. Bên cạnh đường bộ, tuyến đường sắt Chơn Thành – Bàu Bàng – An Bình – Cái Mép đang được nghiên cứu phương án đầu tư, được kỳ vọng bổ sung phương thức vận tải khối lượng lớn và tăng khả năng đưa hàng hóa đến cụm cảng Cái Mép – Thị Vải.
Để các công trình phát huy hiệu quả, mạng lưới giao thông cần liên thông với đường vào khu công nghiệp, ga hàng hóa, trung tâm logistics, Cảng hàng không quốc tế Long Thành và cửa khẩu Hoa Lư. Sự kết nối này hướng đến hình thành hệ thống vận tải liên vùng phục vụ hoạt động sản xuất, lưu chuyển và phân phối hàng hóa.
Từ kinh nghiệm triển khai tại Becamex – Bình Phước, Tập đoàn Becamex đề xuất nghiên cứu mô hình Công nghiệp – Đô thị – Dịch vụ thế hệ mới tại những vị trí phù hợp dọc hành lang Chơn Thành – Hoa Lư. Theo đó, phát triển khu công nghiệp cần gắn với đô thị, dịch vụ, đào tạo nhân lực và logistics; các ngành nghề thu hút đầu tư phải được lựa chọn dựa trên lợi thế địa phương và nhu cầu thị trường.
Đồng Nai có nền tảng sản xuất công nghiệp, nguồn nguyên liệu cao su, điều cùng kinh nghiệm trong lĩnh vực chế biến. Theo ông Thuận, việc bổ sung công nghệ, nâng cao tiêu chuẩn sản phẩm và mở rộng mạng lưới khách hàng sẽ góp phần gia tăng giá trị sản xuất, tạo cơ hội để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Phát triển logistics số gắn với nhu cầu thực tế
Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Dương Văn Hiếu, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Tp.Đồng Nai, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái logistics số tích hợp cảng hàng không, cảng biển và khu công nghiệp. Theo ông, mục tiêu này không chỉ liên quan đến ứng dụng công nghệ trong vận tải, kho bãi mà còn đòi hỏi sự gắn kết với quy hoạch không gian phát triển và đầu tư hạ tầng.
Để hiện thực hóa, ông Hiếu nêu bốn nhóm giải pháp trọng tâm, trước hết là tích hợp quy hoạch và kết nối hạ tầng logistics. Quy hoạch cần xuất phát từ nhu cầu vận hành chuỗi cung ứng, xem xét tổng thể mối liên hệ giữa các đầu mối vận tải và tính đến khả năng phát triển lâu dài.
Trong quá trình này, dữ liệu và công nghệ số có thể hỗ trợ dự báo nhu cầu, mô phỏng phương án kết nối và đánh giá hiệu quả đầu tư. Đây là cơ sở để nghiên cứu cách tổ chức mạng lưới logistics phù hợp với yêu cầu sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Nhóm giải pháp thứ hai tập trung vào kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa doanh nghiệp vận tải, kho bãi, khu công nghiệp, cảng, sân bay và cơ quan quản lý. Việc liên thông cần có tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất, quy định rõ quyền truy cập, trách nhiệm chia sẻ, đồng thời bảo đảm bảo mật và an toàn thông tin.
Về công nghệ, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, điện toán đám mây, bản sao số cùng các nền tảng số có thể được ứng dụng để dự báo nhu cầu vận chuyển, nhận diện nguy cơ ùn tắc, giám sát hàng hóa và tối ưu phương án vận tải. Tuy nhiên, việc triển khai phải phù hợp điều kiện thực tế, có khả năng tích hợp với hệ thống hiện hữu và được đánh giá hiệu quả trước khi mở rộng.
Nhóm giải pháp cuối cùng là hoàn thiện cơ chế phối hợp và xây dựng lộ trình thực hiện giữa các bên tham gia. Cơ quan quản lý nhà nước giữ vai trò định hướng phát triển, hoàn thiện hạ tầng; doanh nghiệp tham gia đầu tư, vận hành, chia sẻ dữ liệu; các đơn vị công nghệ cung cấp giải pháp và hỗ trợ chuyên môn.
Thay vì triển khai đồng loạt trên quy mô lớn, ông Hiếu đề xuất lựa chọn những luồng hàng hóa hoặc cụm liên kết có nhu cầu rõ ràng để thí điểm, đánh giá và từng bước nhân rộng. Cách triển khai này đặt trọng tâm vào hiệu quả vận hành thực tế trước khi mở rộng phạm vi ứng dụng.
Khi các đầu mối vận tải được liên thông, dữ liệu được chia sẻ phù hợp và công nghệ đáp ứng đúng nhu cầu, hệ sinh thái logistics số có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí, nâng cao hiệu quả vận hành và năng lực cạnh tranh.
Trong khi đó, việc phát triển hành lang Chơn Thành – Hoa Lư cần đặt trong tổng thể liên kết vùng, với sự phối hợp giữa các địa phương và doanh nghiệp. Sự đồng bộ về giao thông, công nghiệp và logistics được kỳ vọng góp phần hình thành hệ sinh thái sản xuất hiện đại, mở thêm động lực tăng trưởng cho Đồng Nai.
Quế Chi (tổng hợp)